Monday, September 21, 2015

Chế tài xử phạt khi "chưa dủ tuổi", không có giấy phép lái xe


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng/ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-khi-ch%C6%B0a-%C4%91%E1%BB%A7-tu%E1%BB%95i-kh%C3%B4ng-c%C3%B3-gi%E1%BA%A5y-ph%C3%A9p-l%C3%A1i-xe/907509836014719/?fref=mentions&__tn__=K-R


Page nhận được khá nhiều câu hỏi của các bạn về vấn đề chưa đủ tuổi mà vi phạm giao thông thì bị xử phạt như thế nào? Bao nhiêu tuổi được điều khiển xe mô tô, xe gắn máy… Xin tổng hợp thông tin chung cho các bạn biết.

Định viết ngắn gọn nhưng để mọi người hiểu cặn kẽ thì Ad trình bày lòng thòng thêm chút nữa. Ai muốn ngắn gọn thì đọc các phần Tóm lại được in đậm và gạch chân. Bài viết chủ yếu dành cho đối tượng điều khiển mô tô.

Luật GTĐB quy định về tuổi của người lái xe như sau:

Điều 60. Tuổi, sức khỏe của người lái xe
1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau:
a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;
b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

Các khái niệm "xe gắn máy", "xe mô tô" được quy định trong Điều 3, QCVN 41:2016/BGTVT như sau:

3.39. Xe môtô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặcba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ có dung tích xy lanh từ50 cm3 trở lên, tải trọng bản thân xe không quá 400 kg đối với xe máy 2 bánh hoặckhối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toànkỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ từ 350 kgđến 500 kg đối với xe máy 3 bánh. Khái niệm này không bao gồm xe gắn máy nêu tạiKhoản 3.40 quy định tại Điều này.
3.40. Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, cóhai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫnđộng là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương khôngđược lớn hơn 50 cm3.

Và trong Khoản 1, Điều 3, Nghị định 46/2016/NĐ-CP:

c) Các loại xe tương tự xe mô tô là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh, có dung tích làm việc của động cơ từ 50 cm3 trở lên, có vận tốc thiết kế lớn nhất lớn hơn 50 km/h, có khối lượng bản thân không lớn hơn 400 kg;
d) Xe máy điện là xe gắn máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn 4 kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h;
đ) Các loại xe tương tự xe gắn máy là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h, trừ các xe quy định tại Điểm e Khoản này;
e) Xe đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hom 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp điện).

Tóm lại 1: Tuổi được điều khiển các loại xe cơ giới

- Dưới 16 tuổi: Xe thô sơ thôi.

- Đủ 16 tuổi thì được điều khiển xe gắn máy;

- Đủ 18 tuổi và có GPLX phù hợp mới được điều khiển xe mô tô trở lên.


Nếu không đủ tuổi để điều khiển các loại xe như trên (đồng nghĩa với việc chưa được cấp GPLX) thì các bạn đã vi phạm, có thể bị xử phạt.


Điều 21. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới
1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô.

....

4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

...
5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa;


6. Phạt tiền từ 1.200.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo, các loại xe tương tự xe ô tô.

7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:
a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 06 (sáu) tháng trở lên;


Tóm lại 2: Khi vi phạm "Không có GPLX" đối với mô tô:

- Dưới 16 tuổi thì sẽ không bị phạt tiền mà chỉ bị phạt cảnh cáo, cảnh cáo bằng văn bản, cũng ra Quyết định xử phạt theo hình thức CẢNH CÁO đàng hoàng.

- Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị phạt 500.000đ.

- Đủ 18 tuổi thì bị phạt 1.000.000đ.

Lưu ý, cả 3 trường hợp trên đều có thể bị tạm giữ phương tiện 07 ngày.


Có thể chứng minh độ tuổi bằng các loại giấy tờ như giấy khai sinh, CMND, hộ khẩu….

Trên là đối với trường hợp không có GPLX. Còn đối với các lỗi khác thì sao?

Khoản 3, Điều 134, Luật xử lý vi phạm hành chính quy định

3. Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính.
Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền.
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;

Tóm lại 3: Đối với các lỗi khác:

- Dưới 16 tuổi không bị phạt tiền;
- Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Được "khuyến mại giảm giá" 50% tiền phạt
- Đủ 18 tuổi: Hết thời gian khuyến mãi, nộp đủ 100% tiền phạt.


Nhưng chưa hết

Luật GTĐB quy định:
Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông
1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Như vậy, nếu chưa đủ 18 tuổi hoặc không có bằng lái (trừ xe gắn máy, dưới 50cm3) thì nghĩa là không đủ điều kiện lái xe. Nếu lái xe thì ngoài việc bị phạt ra, người giao xe (chủ xe) cho người vi phạm sẽ bị phạt theo quy định tại Điểm đ, Khoản 4, Điều 30, Nghị định 46/2016/NĐ-CP:

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng).

Tóm lại 4: Nếu chưa đủ tuổi; không có GPLX thì ngoài việc người điều khiển bị phạt ra, người giao xe cũng bị liên đới trách nhiệm và bị phạt 900.000đ.

Các em dưới 16 tuổi đừng vội mừng ... khà... khà....


Mr. Đốp




Friday, February 6, 2015

Cơ bản về lỗi thay đổi màu sơn, "tem xe".


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng/c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-v%E1%BB%81-l%E1%BB%97i-thay-%C4%91%E1%BB%95i-m%C3%A0u-s%C6%A1n-tem-xe/803556086410095/


Page nhận được khá nhiều câu hỏi của các bạn về vấn đề thay đổi màu sơn của xe, dán lại xe.... Đồng thời có thấy một số bài tư vấn về lỗi "tem xe" không cung cấp đầy đủ thông tin nên Ad viết bài này trình bày những vấn đề nắm được về "tem xe".

Tại Khoản 2, Điều 55, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: 

Chủ phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.


Tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP:

1. Phạttiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tươngtự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe;

...
2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân, từ 600.000 đồng đến800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và cácloại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;
b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;

Như vậy, nếu bạn tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe mô tô hoặc tự ý thay đổi màu sơn của xe ô tô không đúng với những gì ghi trong Giấy đăng ký xe thì bạn mới bị xử phạt (mô tô 150.000đ; ô tô 350.000đ)

Ví dụ về "nhãn hiệu", "màu sơn" ghi trong Giấy đăng ký xe ở mục như hình dưới đây:



- Về màu sơn:
Trong Giấy đăng ký xe không ghi cụ thể về màu sắc nên xét về Luật, bạn có thể thay đổi nhưng cần đảm bảo màu sơn của xe bạn vẫn đúng màu ghi trong giấy ĐK xe là được. ví dụ giấy ĐK xe bạn ghi màu "xanh - đen - bạc" thì không phân biệt "xanh lá cây - Đen - Bạc", "Đen - Xanh da trời - Bạc", "Bạc - Đen - xanh lam".... 

- Về nhãn hiệu:
Như trong ví dụ trên, xe có "nhãn hiệu" là Honda, thì bạn chỉ cần đảm bảo giữ đúng nhãn hiệu là Honda, không thay thành Yamaha, BMV... và không có lỗi nào gọi là lỗi "tem xe". Thậm chí ad còn chưa thấy quy định xử phạt lỗi thay đổi mục "Số loại".

Do màu sơn không ảnh hưởng nhiều đến tổng thể của xe cũng như độ an toàn của xe khi lưu thông nên Luật không hoàn toàn cấm việc thay đổi màu sơn. Bạn có thể thay đổi màu sơn tùy thích, truy nhiên trước khi thay đổi bạn cần tiến hành các thủ tục thay đổi màu sơn (đổi giấy ĐK xe).

Trong trường hợp CSGT yêu cầu xử phạt bạn về những lỗi này, bạn có thể ghi hình trực tiếp về nhãn hiệu, màu sơn thực tế của xe và màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe để có chứng cứ tranh luận khi đến giải quyết.


Page không khuyến khích việc tự ý thay đổi màu sơn, gây tranh cãi giữa "xanh - đen" và "xanh lá cây - đen", "xanh da trời - đen"... nhưng cũng cung cấp cho các bạn các quy định như trên để bạn tự quyết định. Việc có bị phạt hay không ngoài việc đúng - sai mà đôi khi còn liên quan đến kiến thức pháp luật, quan điểm riêng của người thi hành công vụ lẫn của các bạn nên các bạn đừng hỏi "có bị phạt hay không".



Chúc bạn tranh luận thành công, đừng bắt đền Page nhé :D

Mr. Đốp





Thursday, January 8, 2015

Quy trình xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng/quy-tr%C3%ACnh-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-h%C3%A0nh-ch%C3%ADnh-v%E1%BB%81-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BB%99/789963724435998/


Bởi nhiều trường hợp công an lợi dụng người vi phạm không biết luật nên “hét giá” mức phạt gấp 3-4 lần nhằm “dọa” cho người vi phạm sợ mà “thôi em xin…” để rồi đòi "đút lót" mới cho đi, trong khi mức phạt thực tế nhỏ hơn nhiều (có bạn bị lỗi theo luật là phạt 70K, CA dọa lỗi này 500K, bạn ấy xin xuống được thành 250K mà vẫn tưởng được ban ơn) => nếu chịu khó  mất chút công, làm đúng luật thì đỡ thiệt hại hơn nhiều mà ít ra tiền được đóng góp ngân sách nhà nước chứ không rơi vào túi bọn tham nhũng. Tuy rằng làm đúng luật sẽ mất công hơn một chút nhưng mình sai mình chịu phạt, coi như mất tiền để có kinh nghiệm an toàn, không phải xin xỏ ai và cũng không mang ấm ức trong lòng. CA dần rồi cũng sẽ ít bắt láo hơn. 

Ad viết những dòng trên có đồng chí công an nào đọc được cũng cần tự xem lại mình, nếu mình trong sạch thì không cần tự ái.

Dưới đây Ad trình bày một quy trình cơ bản theo quy định để các bạn biết được, tránh bị dọa dẫm, phạt sai lỗi, sai mức tiền phạt, sai thẩm quyền... Sở dĩ ad chỉ ghi chung là “Công an”  bởi đôi khi Công an phường, Công an xã, Cảnh sát trật tự, 113 thậm chí là Thanh tra giao thông… cũng có thể dừng xe và xử lý bạn (có trường hợp CSGT còn dọa phạt lỗi không mang theo chứng minh thư nhân dân). Nếu không đang thực thi nhiệm vụ, không có thẩm quyền phạt hay định phạt láo, “dọa dân” thì họ sẽ không làm theo quy trình, không dám viết ra giấy trắng mực đen như tình hình thực tế.

Tóm tắt quy trình: Dừng xe, báo lỗi =>
- Nếu mức phạt 250K trở xuống => QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT TẠI CHỖ (Mục 1) nộp tại chỗ hoặc ra kho bạc.
- Nếu mức phạt trên 250K thì LẬP BIÊN BẢN (Mục 2), để lại giấy tờ rồi đi, hôm khác đến nhận QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT (Mục 3), đóng phạt tại kho bạc
Khi bạn bị dừng xe, sau khi thực hiện quy trình như đã trình bày ở Note trước (Kinh nghiệm xử lý từ A-Z http://goo.gl/oruIwv ), nếu thấy đã đúng lỗi hoặc không biết rõ lỗi, bạn cũng nên yêu cầu lập biên bản (hoặc ra Quyết định xử phạt tại chỗ), giấy trắng mực đen rồi đi hỏi sau, nếu họ “làm láo” thì giấy tờ đó là cơ sở để khiếu nại sau này.

1. Đối với Quyết định xử phạt “tại chỗ”.
Trích Luật xử lý vi phạm hành chính:
Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. 
Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.
Như vậy, đối với vi phạm có mức phạt từ 250.000 trở xuống (đối với từng hành vi) thì họ PHẢI ra "Quyết định xử phạt VPHC theo thủ tục không lập biên bản", quy định này tạo điều kiện cho người vi phạm có thể giải quyết sớm nhất có thể vi phạm của mình, không buộc phải đợi trong vòng 7 ngày mới đi lấy QĐ xử phạt, nộp tiền kho bạc….

Quyết định xử phạt tại chỗ trông giống thế này:



Sau khi ra “Quyết định xử phạt theo thủ tục không lập biên bản”, bạn sẽ nộp phạt ngay tại chỗ cho người ra QĐ xử phạt và người xử phạt có trách nhiệm giao cho bạn biên lai in sẵn mệnh giá giống như thế này:



(Tờ màu hồng)

Sẽ có nhiều mệnh giá (có màu khác nhau) để “ghép” cho đúng số tiền bị phạt ghi trong QĐ xử phạt. Các bạn nhớ lấy biên lai, giữ 1 bản Quyết định xử phạt nhé, như vậy mới chắc là ta đã đóng góp vào ngân sách nhà nước.

Nộp tiền xong, lấy biên lai, cầm QĐ xử phạt và giấy tờ rồi đi thôi.

Bởi theo quy định tại Điều 69, Luật xử lý vi phạm hành chính, "Thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản" thì người vi phạm nộp tiền tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt. Trường hợp người vi phạm KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NỘP PHẠT TẠI CHỖ thì mới ra kho bạc.

Nếu C.A khi nghe đòi biên lai bèn nói “hết biên lai” thì bạn có thể yêu cầu họ ghi (ở mặt sau QĐ, hoặc yêu cầu ghi âm) rõ lý do họ yêu cầu mình ra kho bạc, đại khái "Tôi, trung úy xxx hết biên lai tại chỗ, yêu cầu anh abc nộp phạt tại kho bạc". Việc "hết biên lai" (thường là lấy cớ) là lỗi của người thi hành công vụ, không phải vì lỗi của mình mà buộc người vi phạm phải mất công. Đã có bạn yêu cầu csgt sang chốt khác lấy biên lai về xé đầy đủ cho mình mới chịu đi rồi.

Trường hợp không có tiền nộp tại chỗ thì họ sẽ tạm giữ của bạn MỘT trong các loại giấy tờ theo thứ tự: GPLX; Đăng ký xe;…. Bạn để lại giấy tờ, cầm tờ QĐ, lên xe đi vay tiền rồi phi ra kho bạc vậy, nộp phạt xong họ cũng sẽ giao cho mình một tờ biên lai, mang biên lai này về trình cho người phạt rồi lấy lại giấy tờ vi vu. Hoặc không tiện thì để hôm khác ra kho bạc nộp rồi cầm biên lai đến cơ quan của người xử phạt (Phòng CSGT, Đội CSGT .... được ghi trong QĐ xử phạt) để xuất trình, lấy lại giấy tờ.

Khi đến nộp phạt tại kho bạc hoặc các ngân hàng được kho bạc ủy quyền thu phạt thì bên thu tiền sẽ giữ bản Quyết định xử phạt và giao cho bạn biên lai.

Chịu khó mất công một chút để làm đúng luật, không nên tạo điều kiện cho các chú tham nhũng.

Trích Luật xử lý vi phạm hành chính
Điều 125
6. Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này.

* Nếu không biết rõ đơn vị của người xử phạt thì bạn cần yêu cầu họ ghi ra mặt sau QĐ xử phạt, đề phòng trường hợp đi nộp phạt xong quay lại thì các chú đã hết ca thì mình phải đến đấy để lấy giấy tờ sau. (Thông tư 66)

Hãy coi việc bị tạm giữ GPLX là điều bình thường, khi cầm Quyết định xử phạt trên tay rồi thì cái Quyết định đó tạm thời có thể thay thế GPLX để tiếp tục tham gia giao thông (trừ trường hợp vẫn trong thời gian bị tước GPLX ghi trong QĐ), khi nào tiện thì đi nộp phạt rồi lấy GPLX sau (quá 10 ngày kể từ ngày nhận QĐ xử phạt thì mới tính lãi chậm nộp phạt = 0,05% x mức tiền phạt x số ngày).

Nếu số tiền phạt trên 250.000 (VD mô tô bị lỗi vượt đèn đỏ = 350K, hoặc bị bắn tốc độ) thì “ăn” biên bản như sau:
2. Lập biên bản
Biên bản nôm na là một văn bản để hai bên thống nhất ký xác nhận tình trạng lúc đó chứ không phải là điều gì quá khủng khiếp để mà các chú hay mang ra dọa "Lập biên bản nhé". Khi phát hiện vi phạm, người thi hành công vụ sẽ lập một cái biên bản giống như thế này:



Khi lập biên bản xong, bạn cần đọc lại biên bản, nếu đúng thì mới ký. Trong Biên bản có mục “Ý kiến của người (hoặc đại diện tổ chức) vi phạm”. Nếu có bất kỳ ý kiến gì thì bạn yêu cầu trình bày ngắn gọn vào đây rồi mới ký nhé. Đa phần họ sẽ bắt ghi là “đúng lỗi” nhưng đây là phần ý kiến người vi phạm chứ không phải “ý kiến của người lập biên bản”.

Mục “ý kiến” này rất quan trọng, nhiều khi tranh luận không ngã ngũ có bạn không chịu ký biên bản, điều này vô cùng dại dột bởi mình không ký và giữ 1 bản thì họ hoàn toàn có khả năng ghi bừa thêm lỗi vào rồi nhờ người nào đó làm người chứng kiến ký vào. Không ký biên bản rồi bị giữ giấy tờ, phương tiện mà không có bằng chứng họ giữ, sau đến giải quyết lại mất công đi làm tường trình,…. rất phiền phức. Nên nếu thấy không đúng thì bạn đòi ghi ý kiến vào mục kia rồi mới ký, điều này hoàn toàn đúng pháp luật.

Với trường hợp bị “bắn tốc độ”, theo quy định là phải có hình ảnh. Trường hợp họ không cho xem ngay mà hẹn khi nào nhận QĐ xử phạt sẽ có hình ảnh thì bạn cũng cần ghi thêm vào mục “ý kiến” rằng yêu cầu cho xem hình ảnh trước khi ra QĐ xử phạt.

Cầm biên bản trong tay, gửi lại giấy tờ, ta bon bon đi về hẹn ngày tái ngộ.

Lưu ý: Khi bị lập biên bản và tạm giữ GPLX thì bạn chưa thực sự bị tước GPLX (dù lỗi đó có hình thức xử phạt bổ sung là tước GPLX). Tuy nhiên Biên bản chỉ có tác dụng thay thế GPLX (đã bị tạm giữ) trong thời hạn hẹn đến xử lý ghi trong biên bản. Quá ngày “hẹn hò” mà bạn bị “tóm” nữa thì dù có trình biên bản này ra thì vẫn dính thêm lỗi “Không có GPLX” nhé.

* Tạm giữ phương tiện:
Nhiều bạn bị CS dọa “giam xe”, tuy nhiên không phải cứ “thích” là “giam”. Nếu bạn vi phạm các lỗi nặng (chủ yếu do lỗi về nồng độ cồn, ma túy, đua xe, lạng lách), không có bằng lái hoặc đăng ký xe thì mới bị tạm giữ. Việc tạm giữ phương tiện phải tuân theo quy định của Điều 125, Luật xử lý Vi phạm hành chính và phải có Quyết định (Biên bản) tạm giữ phương tiện đàng hoàng.

Khi vi phạm những lỗi có hình thức xử phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện" thì bạn sẽ bị lập biên bản tạm giữ phương tiện. Thời hạn tạm giữ phương tiện được tính từ ngày phương tiện bị tạm giữ thực tế (ngày vi phạm, bị lập biên bản, tạm giữ xe). Bạn có thể nhận lại xe ngay sau khi thi hành QĐ xử phạt (nộp tiền phạt). Lưu ý mình phải chịu phí giữ xe nên cần nộp phạt sớm để lấy xe sớm, đỡ tiền.

Bạn có thể sử dụng điện thoại để ghi lại hình ảnh phương tiện của mình thời điểm bị tạm giữ để có cơ sở khiếu nại nếu trong quá trình họ giữ xe bị hư hỏng, mất mát.

Khi không xuất trình được GPLX HOẶC Giấy đăng ký xe thì bạn sẽ bị lập biên bản lỗi "Không có Giấy...". Các lỗi này đều có hình thức xử phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện" nên CSGT sẽ tạm giữ xe của bạn (có ghi trong BB giao cho bạn). Trong thời hạn hẹn ghi trong biên bản mà bạn xuất trình được các loại giấy tờ trên khi đến giải quyết thì sẽ chuyển thành lỗi "Không mang theo Giấy..." và bạn có thể lấy xe ngay sau khi nộp phạt.

*Tước Giấy phép lái xe

Với những vi phạm có hình thức xử phạt bổ sung là "tước GPLX" thì thời hạn tước GPLX được tính từ ngày Quyết định xử phạt có hiệu lực. Nếu QĐ xử phạt có hình thức "tước GPLX" mà vẫn đang trong thời hạn tước thì QĐ đó không thể thay thế được GPLX (dù đã nộp phạt hay chưa).

Thêm một phần trả lời thắc mắc của một bạn về việc "tạm giữ" và "giam bằng", "giam xe"
a. TẠM GIỮ GPLX để đảm bảo thi hành QĐ xử phạt, nói nôm na là giữ để "làm tin". Việc tạm giữ xảy ra khi CSGT phát hiện vi phạm và lập biên bản bạn ("Biên bản" chưa quyết định hình thức xử phạt) thì sẽ giữ GPLX để "làm tin" và giao cho bạn Biên bản. Lúc này bạn chưa thực sự bị tước GPLX. Trong thời hạn hẹn ghi trong biên bản thì Biên bản vẫn có tác dụng thay thế GPLX để xuất trình khi bị kiểm tra.

b. TƯỚC GPLX là hình thức xử phạt bổ sung khi bạn vi phạm những lỗi nặng. Ví dụ bạn vượt đèn đỏ, CSGT "tóm" và lập biên bản bạn lỗi "vượt đèn đỏ", tạm giữ GPLX hẹn ngày giải quyết. Lúc này bạn chưa thực sự bị tước GPLX, nếu hôm sau lượn đường bạn bị túm tiếp thì có thể trình Biên bản thay cho GPLX. Đến khi bạn nhận QĐ xử phạt, trong QĐ có ghi hình phạt bổ sung là tước "GPLX 1 tháng" thì kể từ đó bạn không được đi xe (theo luật). Nếu đi mà bị túm tiếp thì trình QĐ xử phạt ra cũng không ăn thua và bị phạt thêm lỗi "Không có GPLX".

c. CSGT sẽ tạm giữ phương tiện khi bạn vi phạm những lỗi có hình phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện". Thông thường chỉ các lỗi nặng thôi. Bạn xem cụ thể trong file excel tổng hợp mức phạt giao thông, dùng chức năng lọc dữ liệu để xem những lỗi bị giữ xe nhé.

Trường hợp bạn không xuất trình được GPLX hoặc ĐK xe thì CSGT cũng giữ xe (vì khi đó sẽ lập biên bản lỗi "Không có giấy....", lỗi này có hình phạt bổ sung giữ xe).

Trong thời hạn hẹn, bạn xuất trình được giấy tờ thì sẽ được chuyển về lỗi "Không mang theo giấy...." (lỗi này không bị hình phạt bổ sung giữ xe), bạn nộp phạt và lấy xe luôn.

Page cung cấp File excel tổng hợp hình thức xử phạt giao thông tại link dưới đây, bạn có thể dùng chức năng lọc dữ liệu của excel để xem những lỗi nào thì bị thêm hình thức xử phạt bổ sung là "giữ xe", tước GPLX. http://www.mediafire.com/download/sisbh6207spsm7f/Tom_tat_ND_46_%2827-7-2016%29.xlsx 


3. Quyết định xử phạt
Theo quy định, trong vòng 07 ngày kể từ ngày lập biên bản thì người có thẩm quyền xử phạt sẽ phải ra QĐ xử phạt (Vì thế bạn cần chú ý thời hạn hẹn ghi trong biên bản có quá ngắn hay không để ý kiến kịp thời) dù bạn có đến xử lý hay không. Nếu vì một lý do nào đó bạn không thể đến đúng hẹn được thì có thể đến sau (muộn cả tháng vẫn được), tuy nhiên vì quá thời gian "hẹn hò" nên khi đó QĐ xử phạt đã có và giữ nguyên những lỗi trong Biên bản, bạn không còn quyền bổ sung thông tin để thay đổi lỗi nữa. Đồng thời Biên bản quá hạn không có tác dụng thay thế GPLX nữa, nếu bạn vi phạm mà bị "tóm" nữa mà trình BB quá hạn đó ra thì vẫn bị phạt "Không có GPLX" khá nặng đô.

Trong trường hợp nhận QĐ xử phạt muộn so với ngày hẹn, bạn có thể yêu cầu (hoặc người giao QĐ sẽ tự ghi, bạn ký) ghi rõ ngày nhận QĐ. Nếu có ngày nhận này thì dù QĐ có ra cách đấy cả năm thì khi nộp phạt tại kho bạc bạn vẫn không bị thêm tiền chậm nộp vì mốc để tính ngày chậm nộp là từ ngày NHẬN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT.

Hiện nay, theo Thông tư 45/2014/TT-BCA, ngày 15 tháng 10 năm 2014 của Bộ Công an thì dù chưa đến ngày hẹn giải quyết, bạn có thể đến nơi xử lý đề nghị ra QĐ xử phạt luôn, nếu đã rõ ràng, không cần xác minh thêm thì họ có thể xử lý luôn, xong sớm, lấy giấy tờ sớm, về sớm.

Các bạn lưu ý đối với trường hợp không mang theo giấy tờ: Theo quy định, nếu xuất trình được giấy tờ TRONG THỜI HẠN hẹn giải quyết ghi trên biên bản thì sẽ chỉ bị xử phạt lỗi "Không mang theo giấy...". Tuy nhiên có nhiều trường hợp người vi phạm đến trong thời hạn hẹn nhưng lại không được giải quyết (hẹn lại, CSGT đi nghỉ mát, sếp không có nhà....), hôm sau quay lại thì đã quá hạn hẹn ghi trên biên bản => bị phạt lỗi "Không có Giấy..." nặng hơn nhiều. Do đó, khi bất kỳ ai hẹn lại thì các bạn cần yêu cầu người đó ghi ngày hẹn lại vào mặt sau biên bản, ký tên vào, hoặc ít nhất cần có bằng chứng nào đó chứng minh mình đã đến đúng hẹn nhưng không được giải quyết.

Trong trường hợp không thể trực tiếp đến giải quyết thì bạn có thể đưa giấy tờ cho người khác đến thay nhưng phải làm giấy ủy quyền. Khi làm giấy ủy quyền phải có dấu xác nhận của chính quyền địa phương nơi bạn cư trú. Trong giấy ủy quyền cần ghi rõ số CMND của bạn và người được ủy quyền. Mang theo những giấy tờ cần thiết khác, CSGT sẽ tiến hành giải quyết làm các thủ tục xử lý vi phạm trả lại giấy tờ xe cho người được ủy quyền theo quy định.

Khi đến nơi, người xử lý (không hẳn là người lập biên bản) sẽ làm việc với bạn dựa trên Biên bản (có chữ ký của cả bạn lẫn người lập biên bản), và các tình tiết bạn cung cấp thêm. Sau khi xác minh các tình tiết, họ sẽ ra một Quyết định xử phạt giống thế này:



Theo quy định thì bạn sẽ được giao 02 bản Quyết định này để bạn giữ 1 bản và nơi thu tiền phạt giữ 1 bản.

Lưu ý khi C.A muốn phạt ai, phạt bao nhiêu tiền… đều phải dựa trên Quyết định xử phạt, giấy trắng mực đen dấu đỏ, ký cọt đàng hoàng nhé (kể cả phạt tại chỗ, phạt cảnh cáo). Các chú có NÓI phạt bao nhiêu cũng không cần lo lắng. Trong QĐ xử phạt sẽ ghi các lỗi mình bị phạt; mức tiền phạt cho từng lỗi… các bạn chỉ phải nộp đúng số tiền ghi trong QĐ thôi. Để có thể tra cứu mức phạt thì có thể làm theo các cách bài này https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/posts/783036861795351

Có một số trường hợp không ra Quyết định xử phạt được quy định tại Luật xử lý VPHC:
Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính
Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:
1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;
2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;
3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;
4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;
5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.
Ví dụ bạn đi đúng làn nhưng BẤT NGỜ có một xe chèn lên làm bạn buộc phải lách ra làn ngoài để tránh và bị bắt lỗi “sai làn”, đây là tình huống cấp thiết nên dù có vi phạm nhưng không bị xử lý. Nếu họ cố tình lập biên bản thì bạn yêu cầu ghi vào phần "ý kiến" về tình huống bất ngờ đó rồi mới ký, khi đến nơi "hẹn hò" sẽ làm việc, trình bày theo Luật với người ra QĐ xử phạt sau.
11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Khi đã có Quyết định xử phạt (có lập biên bản) thì bạn sẽ phải nộp phạt tại kho bạc.

Khi cầm Quyết định xử phạt (kể cả QĐ xử phạt "tại chỗ") trên tay thì bạn có thể xuất trình khi bị kiểm tra thay cho GPLX (đã bị tạm giữ) trừ trường hợp trong QĐ xử phạt có hình thức xử phạt bổ sung là "tước GPLX" và vẫn đang trong thời hạn bị tước GPLX.

Bài viết dựa trên cơ sở Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 81/2013/NĐ-CP; Thông tư 153/2013/TT-BTC; Thông tư 45/2014/TT-BCA; Thông tư 05/2014/TT-BGTVT...

Lưu ý về mức tiền phạt:
Để biết mức phạt, các bạn có thể xem thêm tại đây https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/posts/783036861795351

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính:
Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thìmức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.

Ví dụ bạn bị lỗi "không đội mũ bảo hiểm", trong NĐ 171 quy định mức phạt là từ 100K đến 200K, như vậy nếu có tình tiết tăng nặng (tái phạm, lăng mạ CA, che giấu hành vi...) thì mức phạt là 200K; nếu có tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn, tự nguyện khai báo; có hành vi giảm bớt hậu quả...) thì mức phạt là 100K. Còn thông thường thì sẽ lấy mức trung bình cộng là 150K. Do đó nếu bị "dọa" hay "ép" vào mức phạt cao nhất thì bạn cần nêu ý kiến, thể hiện rõ vào biên bản.

Mong nhận được sự góp ý của các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.

Mr. Đốp




Monday, December 29, 2014

Chế tài xử phạt vi phạm giao thông 46/2016/ND-CP


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/posts/783036861795351


Thursday, December 11, 2014

Dôi diều cần lưu ý khi bị xử phạt lỗi "sai làn"


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/%C4%91%C3%B4i-%C4%91i%E1%BB%81u-c%E1%BA%A7n-l%C6%B0u-%C3%BD-khi-b%E1%BB%8B-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-l%E1%BB%97i-sai-l%C3%A0n/772629309502773


LƯU Ý QUAN TRỌNG: Đến 1/11/2016, QCVN 41:2016 có hiệu lực thì những căn cứ trong bài viết này (dựa trên QCVN 41:2012) có thể không còn hiệu lực; Bài viết này có thể không còn chính xác nữa nên mọi người lưu ý tham gia giao thông đúng luật, không dựa vào bài viết này để tranh luận nữa.

Mr. Đốp

Tham gia giao thông ở Hà Nội, ad rất bức xúc khi nhiều trường hợp người dân không vi phạm Luật mà CSGT dựa vào sự thiếu hiểu biết của đa số người dân để dọa nạt, không lỗi thành có lỗi, lỗi nhỏ thành lỗi to. Điển hình trong thời gian qua là lỗi "sai làn". Như vậy, khi nào bị lỗi "sai làn"? Ad tạm tổng hợp thông tin chính như sau:

I. Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường:

Ở những ngã 3, ngã 4 các dòng phương tiện được phân làn rẻ phải, rẽ trái và đi thẳng để tránh xung đột giao thông bằng vạch kẻ đường + mũi tên chỉ hướng đi trên mỗi làn đường và biển báo 411

Biển số 411 "Hướng đi trên mỗi làn đường theo vạch kẻ đường"



Vạch số 1.18:


Ví dụ bạn rẽ trái mà lại đi vào làn có mũi tên đi thẳng thì gọi là: Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường.

Lưu ý, biển 411 phải có vạch 1.18 ở dưới thì mới hiệu lực. Hoặc nếu chỉ có riêng vạch 1.18 thì vẫn hiệu lực. Còn trường hợp có biển 411 mà không có vạch 1.18 thì biển đó không hiệu lực bởi biển 411 là biển chỉ dẫn, không thể làm căn cứ xử phạt.

*Tóm lại, tại nơi giao nhau mà đi sai hướng mũi tên chỉ trên làn đường mình đi trước đó thì dính lỗi nhẹ tiền


II. Lỗi "Sai làn".
Khi trên mặt đường phân chia thành nhiều làn được phân biệt bằng vạch kẻ đường, mỗi làn chỉ cho 1 số loại phương tiện giao thông nhất định đi trên đó. Ví dụ: Làn dành riêng cho ô tô con, làn dành riêng cho ô tô tải, làn dành riêng cho xe máy... Và quan trọng là biển báo hiệu "đường dành riêng" như hình dưới đây:

Biển 412 (a,b,c,d) "Làn đường dành riêng cho từng loại xe"


Hoặc các biển báo được mô tả ".... đường dành cho ....." như các biển:


Ví dụ nếu bạn đi ô tô mà đi vào làn xe máy thì như vậy mới gọi là sai làn.

* Tóm lại, đi vào làn đường dành riêng cho loại phương tiện khác HOẶC đi vào làn đường ngược chiều thì sẽ bị lỗi "sai làn"

Cần phân biệt rõ hai lỗi này bởi mức phạt chênh nhau rất lớn

- Lỗi "Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường"
mô tô: 70.000
ô tô: 150.000

- Lỗi "Sai làn": "Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố"
mô tô: 300.000
ô tô: 1.000.000, tước GPLX 1 tháng


Như vậy, khi bị CSGT dừng xe và thông báo lỗi "sai làn' thì bạn cần kiểm tra lại xem trước đó có biển 412, 411, mũi tên chỉ hướng trên đường (vạch 1.18) hay không. Nếu có vạch 1.18 mà mình đi sai hướng => lỗi "không chấp hành vạch"; Nếu có 412 (hoặc đi qua làn đường ngược chiều) => sai làn.

CSGT thường hay dọa lỗi "sai làn" với mức phạt nặng hơn để người vi phạm "sợ" mà "50-50", CSGT có tiền đút túi. Nhưng rõ ràng, nếu bạn đi mô tô mà không biết luật, bị dọa "sai làn" bèn 50-50 với CSGT thì sẽ mất 150.000 vào túi bọn tham nhũng, trong khi mức phạt thực tế đúng lỗi "không chấp hành..." chỉ có 70.000 đóng góp cho ngân sách quốc gia.


Nhiều nơi có đèn mũi tên cho phép rẽ phải/trái khi đèn đỏ, trên đường không có biển 411, 412, vạch 1.18 nhưng CSGT vẫn cứ chỉ lên đèn mũi tên (hoặc vạch sọc hình quả trám ở một làn nào đó) nói rằng "làn này dành cho xe rẽ phải/trái" như vậy là sai, và đây là điều Ad đang rất bức xúc hiện nay nên cũng muốn nhấn mạnh một chút.

Ví dụ như trong ảnh dưới đây mô tả việc dừng vào làn rẽ phải trên đường Xã Đàn, khi DỪNG xe trên làn có mũi tên rẽ phải như trong ảnh thì CHƯA vi phạm gì (vì vạch 1.18 quy định hướng đi tại nơi giao nhau). Nhưng sau đó ai đi thẳng sang Hoàng Cầu (mà không rẽ phải về Tôn Đức Thắng/Khâm Thiên) sẽ dễ bị CSGT đứng bên kia "hốt", và lỗi này là lỗi "Không tuân thủ..." chứ không phải lỗi "sai làn" nhé.



Ví dụ tiếp tại ngã tư Bạch Mai - Minh Khai - Đại La


Như trong ảnh, ta thấy hai làn đường, phía bên ô tô đứng và phía bên xe máy đứng được phân chia bằng vạch liền. Phía trước có đèn mũi tên cho phép rẽ trái và đèn tín hiệu chính. Trước đó không hề có biển 411, 412, vạch 1.18. Như vậy khi đèn xanh, ta có thể đi thẳng từ vị trí người chụp ảnh (làn bên trái). CSGT thường chặn bắt các xe đi thẳng từ làn này và xử phạt lỗi "sai làn", lấy lý do rằng đèn mũi tên rẽ trái treo ở kia quy định xe đi làn bên trái đó chỉ được rẽ trái. Như vậy hoàn toàn sai, và có nhiều người "cứng luật" đã tranh luận và chiến thắng CSGT trong trường hợp này.

http://www.otofun.net/threads/768267-nha-chau-lam-chuot-bach-tai-nga-tu-minh-khai-bach-mai-td-dl

http://www.otofun.net/threads/258045-em-da-xu-li-chuyen-bi-hai-tai-nga-tu-minh-khai-va-dai-la-truong-dinh-bach-mai

http://www.otofun.net/threads/537060-em-lai-bi-xxx-bat-sai-lan-o-nga-tu-minh-khai-bach-mai-dai-la-truong-dinh

Tại ngã tư Tôn Đức Thắng - Quốc Tử Giám - Cát Linh cũng tương tự, đường phân 3 làn, dưới lòng đường không có vạch 1.18, trước đó không có biển 411, thế mà sáng nay ad đi đường đấy thấy CSGT chặn bắt 2 cô gái đi trên Quốc Tử Giám, từ làn giữa rẽ trái về Tôn Đức Thắng bị CSGT bắt và lý luận rằng muốn rẽ trái (có đèn mũi tên rẽ trái) phải đi vào làn sát bên trái. Ngày trước ad cũng bị dừng xe tương tự nhưng sau khi nghe ad lập luận rằng "không có biển bốn một một, không có vạch một - mười tám" thì CSGT có vẻ chột dạ và lấy cớ kiểm tra giấy tờ rồi cho ad đi ngay :v.

Ngoài ra, những vị trí "được phép rẽ phải khi đèn đỏ" thường có vạch sọc chéo ở dưới nền đường, vạch này (dù vẽ sai quy chuẩn) mang ý nghĩa cấm các phương tiện dừng tuy nhiên không có tác dụng phân làn


* Lưu ý: Trường hợp có vạch mắt võng nhưng không có biển phụ "đèn đỏ được phép rẽ phải" hoặc không bật xanh đèn phụ mũi tên rẽ phải thì các bạn phải dừng lại trên vạch mắt võng này. Vì theo quy định, đèn tín hiệu có hiệu lực cao hơn vạch kẻ đường nên "vạch cấm dừng" mà "đèn cấm đi" thì ta phải dừng theo đèn.

Ad lấy ví dụ báo hiệu giao thông tại ngã tư Trần Hưng Đạo - Bà Triệu  như sau:



Phía trước đó không có biển 411, 412, dưới mặt đường không có vạch 1.18. Như vậy trong trường hợp đèn đi thẳng đã xanh, bạn hoàn toàn có thể đi thẳng (không rẽ phải đi Bà Triệu) trên làn có sọc chéo đó. Và các xe rẽ phải cũng không bắt buộc phải đi vào khu vực vạch mắt võng đó. Vạch kẻ kiểu mắt võng chỉ có tác dụng cấm phương tiện dừng đỗ trên nó (đi chậm vẫn được) chứ không có tác dụng phân làn đường. Trường hợp bạn đi thẳng mà DỪNG chờ đèn đỏ trên vạch đó sẽ bị lỗi "không tuân thủ..." (vì vạch cấm dừng mà ta lại dừng).

Tuy nhiên các bạn không nên đi/dừng trong khu vực này khi không rẽ phải để khỏi gây xung đột giao thông cho các phương tiện rẽ phải.

Còn như tại Ô Chợ Dừa hướng từ Nguyễn Lương Bằng đi Khâm Thiên trước đó có biển 411, trên các làn đường tại đó có vẽ mũi tên chỉ hướng đi trên từng làn nên các xe phải đi vào khu vực vạch mắt võng để rẽ phải về Khâm Thiên (các bạn nhìn rõ vạch 1.18 hình mũi tên chỉ cho phép rẽ phải trên làn sọc chéo đó). Khi đường đông rất khó để các xe rẽ phải về Khâm Thiên đi vào cái vạch chéo này nên rất nhiều tài xế rẽ về Khâm Thiên tại làn giữa có mũi tên đi thẳng để rồi bị bắt ở bên Khâm Thiên và bị dọa lỗi "sai làn" mặc dù lỗi này chính xác chỉ là lỗi "không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường" (mũi tên đi thẳng ở làn giữa nói rằng rằng chỉ được đi thẳng về Tôn Đức Thắng mà các bác lại rẽ phải về Khâm Thiên => không tuân thủ vạch kẻ đường 1.18)



Lỗi "sai làn" ad thấy ở Hà Nội gặp rất nhiều nên sẽ "đính" nó lên đây để mọi người cùng tham khảo nhé. Và khi đến điểm giao cắt, mọi người cùng nên tránh dừng tại những làn đường có vạch chỉ hướng mà mình không theo.

Mong mọi người tham gia giao thông tỉnh táo.

Bài viết có tham khảo bài và ảnh của một số thành viên trên diễn đàn otofun.net.

Quy định về biển báo hiệu, vạch kẻ đường được trích từ QCVN 41:2012/BGTVT "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ" quy định về hệ thống báo hiệu đường bộ

Mr. Đốp




Tuesday, September 30, 2014

Thẩm quyền của CSCD, 113, C.A phường... trong xử lý các vi phạm luật giao thông đường bộ!


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/th%E1%BA%A9m-quy%E1%BB%81n-c%E1%BB%A7a-csc%C4%91-113-ca-ph%C6%B0%E1%BB%9Dng-trong-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-c%C3%A1c-vi-ph%E1%BA%A1m-lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-/737676319664739



Ngoài CSGT có nhiệm vụ, quyền hạn chuyên về lĩnh vực giao thông ra thì hiện nay vẫn có nhiều lực lượng như CSCĐ, CSTT, C.A xã... tham gia tuần tra, xử phạt về giao thông. Tuy nhiên những lực lượng này chỉ có thẩm quyền xử phạt đối với một số lỗi vi phạm. Trong khuôn khổ bài viết này, Ad tổng hợp một số lỗi vi phạm về giao thông đối với xe mô tô mà các lực lượng trên có thẩm quyền xử phạt. Việc đòi phạt, thu tiền đối với những lỗi ngoài danh mục dưới đây với xe mô tô đều là hành vi lạm quyền (Lưu ý là lập BB thì vẫn được nhé, đừng thách nhau :D).

Tại Khoản 3, Điều 70, Nghị định 46/2016/NĐ-CP "Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt" có quy định thẩm quyền xử phạt của các lực lượng sau:

- Cảnh sát trật tự,
- Cảnh sát phản ứng nhanh (113),
- Cảnh sát cơ động,
Trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đườngsắt có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các điểm,khoản, điều của Nghị định này như sau:

Điều 6, Khoản 2, mức phạt 90K
e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

Điều 6, Khoản 3, mức phạt 150K

a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 03 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;

e) Bấm còi, rú ga (nẹt pô) liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

h) Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; đỗ xe tại nơi có biển “Cấm đỗ xe” hoặc biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 48 Nghị định này;

i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

o) Người đang điều khiển xe sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính.


Điều 6, Khoản 4, mức phạt 350K

b) Chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;

d) Dừng xe, đỗ xe trên cầu;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người được chở trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

m) Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.
Điều 6, Khoản 5, mức phạt 750K


b) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

d) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

đ) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;

e) Dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định.


Điều 6, Khoản 6, mức phạt 1.500K


Người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở.

Điều 6, Khoản 7, mức phạt 2.500K

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

Điều 6, Khoản 8, mức phạt 3.500K


b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.


Điều 6, Khoản 9, mức phạt 6.000K (12.000K nếu gây tai nạn HOẶC không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người điều khiển giao thông)


a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 02 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

Điều 6, Khoản 11

Người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy:


- Tước GPLX từ 22 tháng đến 24 tháng (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) HOẶC
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (trong trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe)

Điều 34
Khoản 1, mức phạt 1.500K

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

Khoản 2, mức phạt 7.500K đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

Khoản 3, mức phạt 9.000K đối với người đua xe ô tô trái phép.


Như vậy, các lực lượng trên không có thẩm quyền XỬ PHẠT với một số lỗi thông dụng như: Không bật đèn chiếu sáng khi trời tối; Các lỗi về giấy tờ xe; Chuyển làn, hướng không có tín hiệu (Không xi nhan), chạy quá tốc độ quy định (nếu 1 xe, không phải đua), Xe không gương chiếu hậu bên trái...

Lưu ý: Nhiều bạn đọc báo mạng, không để ý kỹ câu từ được sử dụng là "thẩm quyền xử phạt" và cho rằng các lực lượng trên không được "bắt", không được "xử lý" các lỗi còn lại... Các lực lượng trên vẫn có thể có thẩm quyền lập biên bản (Điều 75, NĐ 46/2016/NĐ-CP) các hành vi vi phạm giao thông mà họ không có thẩm quyền xử phạt (Điều 70), sau đó bàn giao biên bản cho người có thẩm quyền xử phạt ra Quyết định xử phạt. Việc này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Đoạn 2, Khoản 3, Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính:




Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

3. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.
Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.


Đã cập nhật theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP

Mr. Đốp




Thursday, September 25, 2014

Phạt xe máy lỗi "gương không chuẩn", "gương thời trang"?


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/ph%E1%BA%A1t-xe-m%C3%A1y-l%E1%BB%97i-g%C6%B0%C6%A1ng-kh%C3%B4ng-chu%E1%BA%A9n-g%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%9Di-trang/735552583210446


Điều 53, Luật GTĐB quy định điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới phải:

Có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển”

Tại Điều 2.11 "Gương chiếu hậu" trong QCVN 14:2015/BGTVT của Bộ GTVT về Chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe mô tô, xe gắn máy thì xe gắn máy phải lắp ít nhất 1 gương chiếu hậu bên trái; xe mô tô phải lắp 2 gương chiếu hậu bên phải và bên trái người điều khiển.

Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm giao thông quy định:
Điều 17. Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cảxe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máyvi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông
1. Phạttiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sauđây:
a) Điềukhiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên tráingười điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng;

Như vậy, Luật quy định phải có đủ 2 gương nhưng chỉ có quy định xử phạt nếu thiếu gương bên trái. Do vậy CSGT chỉ phạt khi xe mô tô thiếu gương bên trái hoặc có gương bên trái nhưng không có tác dụng với mức phạt tiền là 90.000đ. Xe mô tô thiếu gương chiếu hậu bên phải dù sai quy định nhưng không bị phạt.

Nhưng thế nào là gương chiếu hậu đạt tiêu chuẩn? CSGT xử phạt lỗi “gương thời trang” có đúng không? Gương cầu có bị phạt không?....

Quy chuẩn Việt Nam về gương chiếu hậu cho mô tô, xe máy www.vr.org.vn/vaq/Standards/TCVNFiles/QCVN28-2010.pdf

Trong đó, có những chi tiết có thể dễ dàng xác định mà không cần đo bằng phương tiện kỹ thuật như:
- Gương có tác dụng phản xạ
- Tại mục Quy định kỹ thuật, Quy định kỹ thuật chung:
Tất cả các gương phải điều chỉnh được vùng quan sát.

- Tại mục Quy định về kích thước:
2.2.1 Diện tích của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 69cm2
2.2.2 Trong trường hợp gương tròn, đường kính của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 94mm và không được lớn hơn 150mm

Như vậy, gương chiếu hậu mô tô, xe máy “tiêu chuẩn” là đáp ứng được các điều kiện trong Quy chuẩn trên. Không có quy định nào cấm hoặc xử phạt người sử dụng “gương thời trang” hay “gương cầu”, “gương không theo xe”.

Hiện có nhiều người vẫn nhầm tưởng lỗi "không gương" là "lỗi phụ", chỉ được xử phạt kèm theo "lỗi chính". Đây là quan niệm sai lầm bởi vì không có quy định nào về lỗi chính, lỗi phụ. Nếu một hành vi đã được quy định trong chế tài xử phạt thì đều có thể xử phạt riêng.

Lưu ý: Page sẽ không trả lời bất kỳ câu hỏi nào dạng "gương này có bị phạt không?"... Page đã cung cấp quy định, các bạn đọc kỹ rồi tự đo gương của mình xem có phù hợp quy định hay không. Chứ Page chỉ nhìn ảnh sao biết được kích thước :(

Mr. Đốp