Chắc sẽ có nhiều xe máy bị ngập nước, chết máy. Em xin phép chia sẻ lại:
Cách xử lý khi xe máy bị ngập nước, chết máy
Dù là xe số hay xe ga, nhưng khi đi qua những vùng ngập lụt lớn thường bị chết máy. Xe máy bị chết máy do ngập nước sẽ có nguy cơ hỏng hóc rất cao.
Nếu bạn chưa biết phải làm gì khi xe máy ngập nước hãy bỏ túi ngay cho mình những bí quyết dưới đây để ứng phó và sửa chữa xe khi gặp phải hiện tượng này.
Đối với xe số
Dắt xe máy qua vùng bị ngập đến nơi khô ráo hơn. Khi xe máy bị ngập nước và chết đột ngột, nếu nổ máy 1, 2 lần không được thì không nên cố đề hay nổ máy, điều này sẽ làm cho sự việc càng thêm nghiêm trọng.
Khi nổ máy được bình thường nên về số 0 và rồ ga để nếu có nước trong pô xe thì sẽ được giải phóng ra ngoài.
Sử dụng công cụ tháo bu-gi ra lau thật khô rồi lắp trở lại, thường được các hãng xe trang bị sẵn khi mua xe máy mới.
Khóa xăng và xả cho hết số xăng cũ còn đọng lại trong bộ chế hòa khí, sau đó mở xăng và khởi động máy.
Để xử lý xe chết máy do ngập nước phải xả toàn bộ dầu trong khoang máy; làm sạch và thay dầu mới sau khi vệ sinh khoang máy.
Sử dụng các thiết bị chuyên dụng để sấy khô, vệ sinh sạch các đầu mối điện trong hệ thống điện để tránh ăn mòn, bị oxy hóa và chập điện.
Cần làm khô hệ thống phanh xe để khi sử dụng phanh không bị kêu và không bị ăn mòn.
Để đảm bảo chiếc xe hoạt động ổn định về lâu dài, người điều khiển nên mang xe đến đại lý gần nhất để được hỗ trợ. Bởi khi di chuyển trong vùng ngập nước, các chi tiết máy, dầu xe, hệ thống điện đều dính nước, nên cần được vệ sinh lại.
Với xe ga
Với những xe tay ga, do cấu tạo đặc biệt, đường ống thông hơi của hộp số tự động thấp nên nước rất dễ lọt vào làm cho dầu máy bị axit hóa chuyển từ màu vàng thông thường sang màu trắng đục.
Khi xe chết máy do ngập nước, người lái không nên cố khởi động lại xe, có thể làm cho xe hư hỏng nặng thêm. Việc bạn cần làm là dắt xe ra khỏi vùng ngập nước tìm đến các cửa hàng sửa chữa gần đó, hoặc bạn tự thực hiện các bước sau:
Tháo bugi, lau chùi thật khô rồi lắp lại.
Xả toàn bộ dầu trong khoang máy, vệ sinh lại khoang máy và thay dầu mới để đảm bảo không còn lẫn nước trong dầu nhớt.
Các đầu mối trong hệ thống điện cũng cần được sấy khô, tránh được tình trạng hệ thống mạch điện bị chập, cháy dẫn đến phải thay phụ kiện.
Cần làm khô hệ thống phanh để giảm thiểu khả năng bị chai má phanh. Nếu xích, chân phanh và cần khởi động dính tạp chất có thể sử dụng mỡ hoặc dầu máy để tẩy sạch.
Nhiều trường hợp công an lợi dụng người vi phạm không biết luật nên “hét giá” mức phạt gấp 3-4 lần nhằm “dọa” cho người vi phạm sợ mà “thôi em xin…” để rồi đòi "đút lót" mới cho đi, trong khi mức phạt thực tế nhỏ hơn nhiều (có bạn bị lỗi theo luật là phạt 70K, CA dọa lỗi này 500K, bạn ấy xin xuống được thành 250K mà vẫn tưởng được ban ơn) => nếu chịu khó mất chút công, làm đúng luật thì đỡ thiệt hại hơn nhiều mà ít ra tiền được đóng góp ngân sách nhà nước chứ không rơi vào túi bọn tham nhũng. Tuy rằng làm đúng luật sẽ mất công hơn một chút nhưng mình sai mình chịu phạt, coi như mất tiền để có kinh nghiệm an toàn, không phải xin xỏ ai và cũng không mang ấm ức trong lòng. CA dần rồi cũng sẽ ít bắt láo hơn.
Ad viết những dòng trên có đồng chí công an nào đọc được cũng cần tự xem lại mình, nếu mình trong sạch thì không cần tự ái.
Dưới đây Ad trình bày một quy trình cơ bản theo quy định để các bạn biết được, tránh bị dọa dẫm, phạt sai lỗi, sai mức tiền phạt, sai thẩm quyền... Sở dĩ ad chỉ ghi chung là “Công an” bởi đôi khi Công an phường, Công an xã, Cảnh sát trật tự, 113 thậm chí là Thanh tra giao thông… cũng có thể dừng xe và xử lý bạn (có trường hợp CSGT còn dọa phạt lỗi không mang theo chứng minh thư nhân dân). Nếu không đang thực thi nhiệm vụ, không có thẩm quyền phạt hay định phạt láo, “dọa dân” thì họ sẽ không làm theo quy trình, không dám viết ra giấy trắng mực đen như tình hình thực tế.
Tóm tắt quy trình: Dừng xe, báo lỗi =>
- Nếu mức phạt 250K trở xuống => QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT TẠI CHỖ (Mục 1) nộp phạt tại chỗ, nhận biên lai và giấy tờ đi luôn. (hoặc ra kho bạc nếu không mang tiền)
- Nếu mức phạt trên 250K thì LẬP BIÊN BẢN (Mục 2), để lại giấy tờ rồi đi, hôm khác đến nhận QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT (Mục 3), đóng phạt tại kho bạc
Khi bạn bị dừng xe, sau khi thực hiện quy trình như đã trình bày ở Note trước (Kinh nghiệm xử lý từ A-Z https://www.facebook.com/notes/718737641558607 ), nếu thấy đã đúng lỗi hoặc không biết rõ lỗi, bạn cũng nên yêu cầu lập biên bản (hoặc ra Quyết định xử phạt tại chỗ), giấy trắng mực đen rồi đi hỏi sau, nếu họ “làm láo” thì giấy tờ đó là cơ sở để khiếu nại sau này.
1. Đối với Quyết định xử phạt “tại chỗ”.
Trích Luật xử lý vi phạm hành chính:
Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.
Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.
Như vậy, đối với vi phạm có mức phạt từ 250.000 trở xuống (đối với từng hành vi, không phải tổng tiền phạt các lỗi) thì họ PHẢI ra "Quyết định xử phạt VPHC theo thủ tục không lập biên bản", quy định này tạo điều kiện cho người vi phạm có thể giải quyết sớm nhất có thể vi phạm của mình, không buộc phải đợi trong vòng 7 ngày mới đi lấy QĐ xử phạt, nộp tiền kho bạc….
Với việc phạt tại chỗ, bạn sẽ nhận Quyết định, nộp tiền phạt cho người xử phạt và nhận Biên lai tương ứng số tiền ghi trong Quyết định, ví dụ theo mẫu dưới đây:
Lưu ý Biên lai thu tiền phải được đóng dấu đơn vị thu ở phía trên, bên trái tờ biên lai và được ghi đầy đủ các nội dung. Sẽ có nhiều mệnh giá (có màu khác nhau) để “ghép” cho đúng số tiền bị phạt ghi trong QĐ xử phạt. Các bạn nhớ lấy biên lai, giữ 1 bản Quyết định xử phạt nhé, như vậy mới chắc là ta đã đóng góp vào ngân sách nhà nước.
Nộp tiền xong, lấy biên lai, cầm 1 bản QĐ xử phạt và nhận lại giấy tờ rồi đi thôi. Bạn đã bị phạt và thi hành xong quyết định xử phạt. Lại lưu thông như bình thường.
Phần này rất quan trọng. Theo quy định tại Điều 69, Luật xử lý vi phạm hành chính, "Thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản" thì người vi phạm nộp tiền tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt. Trường hợp người vi phạm KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NỘP PHẠT TẠI CHỖ thì mới ra kho bạc. Tuy nhiên vì lý do nào đó csgt hay báo “hết biên lai”, giữ giấy tờ và bắt bạn ra kho bạc đóng tiền rồi quay lại nộp phạt. Việc này là sai luật.
Nếu C.A khi nghe đòi biên lai bèn nói “hết biên lai” thì bạn có thể yêu cầu họ ghi (ở mặt sau QĐ, hoặc yêu cầu ghi âm) rõ lý do họ yêu cầu mình ra kho bạc, đại khái "Tôi, trung úy xxx hết biên lai tại chỗ, yêu cầu anh abc nộp phạt tại kho bạc". Việc "hết biên lai" (thường là lấy cớ) là lỗi của người thi hành công vụ, không phải vì lỗi của mình mà buộc người vi phạm phải mất công. Đã có bạn yêu cầu csgt sang chốt khác lấy biên lai về xé đầy đủ cho mình mới chịu đi rồi.
Trường hợp không có tiền nộp tại chỗ thì họ sẽ tạm giữ của bạn MỘT trong các loại giấy tờ theo thứ tự: GPLX; Đăng ký xe;…. Bạn để lại giấy tờ, cầm 2 tờ QĐ, lên xe đi vay tiền rồi đi đến nộp phạt tại kho bạc hoặc các ngân hàng được kho bạc ủy quyền. Khi thu phạt thì bên thu tiền sẽ giữ bản Quyết định xử phạt và giao cho bạn biên lai., nộp phạt xong họ cũng sẽ giao cho mình một tờ biên lai, mang biên lai này về trình cho người phạt rồi lấy lại giấy tờ vi vu. Hoặc không tiện thì để hôm khác ra kho bạc nộp rồi cầm biên lai đến cơ quan của người xử phạt (Phòng CSGT, Đội CSGT .... được ghi trong QĐ xử phạt) để xuất trình, lấy lại giấy tờ.
Chịu khó mất công một chút để làm đúng luật, không nên tạo điều kiện cho các chú tham nhũng.
* Nếu không biết rõ đơn vị của người xử phạt thì bạn cần yêu cầu họ ghi ra mặt sau QĐ xử phạt, đề phòng trường hợp đi nộp phạt xong quay lại thì các chú đã hết ca thì mình phải đến đấy để lấy giấy tờ sau.
Hãy coi việc bị tạm giữ GPLX là điều bình thường, khi cầm Quyết định xử phạt trên tay rồi thì cái Quyết định đó tạm thời có thể thay thế GPLX để tiếp tục tham gia giao thông (trừ trường hợp vẫn trong thời gian bị tước GPLX ghi trong QĐ), khi nào tiện thì đi nộp phạt rồi lấy GPLX sau (quá 10 ngày kể từ ngày nhận QĐ xử phạt thì mới tính lãi chậm nộp phạt = 0,05% x mức tiền phạt x số ngày).
Nếu số tiền phạt trên 250.000 (VD mô tô bị lỗi vượt đèn đỏ = 350K, hoặc bị bắn tốc độ = 150K) thì “ăn” biên bản như sau:
2. Lập biên bản
Biên bản nôm na là một văn bản để hai bên thống nhất ký xác nhận tình trạng lúc đó chứ không phải là điều gì quá khủng khiếp để mà các chú hay mang ra dọa "Lập biên bản nhé".
Nếu có yêu cầu nộp phạt qua bưu điện thì bạn đề nghị với csgt luôn khi lập Biên bản. Nhưng lưu ý chỉ được nộp phạt qua bưu điện trong trường hợp lỗi của bạn chỉ bị phạt tiền (không bị tước bằng hay gì khác) đồng thời bạn không cư trú ở địa phương xảy ra vi phạm.
Khi phát hiện vi phạm, người thi hành công vụ sẽ lập một cái biên bản giống như thế này (có thể rút gọn lại vừa 1 trang):
Mẫu Biên bản 2018
Khi lập biên bản xong, bạn cần đọc lại biên bản, nếu đúng thì mới ký. Trong Biên bản có mục “Ý kiến trình bày của cá nhân vi phạm/đại diện tổ chức vi phạm”. Nếu có bất kỳ ý kiến gì thì bạn yêu cầu trình bày ngắn gọn vào đây rồi mới ký nhé. Đa phần họ sẽ bắt ghi là “đúng lỗi” nhưng đây là phần ý kiến người vi phạm chứ không phải “ý kiến của người lập biên bản”.
Mục “ý kiến” này rất quan trọng, nhiều khi tranh luận không ngã ngũ có bạn không chịu ký biên bản, điều này vô cùng dại dột bởi mình không ký và giữ 1 bản thì họ hoàn toàn có khả năng ghi bừa thêm lỗi vào rồi nhờ người nào đó làm người chứng kiến ký vào. Không ký biên bản rồi bị giữ giấy tờ, phương tiện mà không có bằng chứng họ giữ, sau đến giải quyết lại mất công đi làm tường trình,…. rất phiền phức. Nên nếu thấy không đúng thì bạn đòi ghi ý kiến vào mục kia rồi mới ký, điều này hoàn toàn đúng pháp luật. Với trường hợp bị “bắn tốc độ”, theo quy định là phải có hình ảnh. Trường hợp họ không cho xem ngay mà hẹn khi nào nhận QĐ xử phạt sẽ có hình ảnh thì bạn cũng cần ghi thêm vào mục “ý kiến” rằng yêu cầu cho xem hình ảnh trước khi ra QĐ xử phạt.
Cầm biên bản trong tay, gửi lại giấy tờ, ta bon bon đi về hẹn ngày tái ngộ.
Lưu ý: Khi bị lập biên bản và tạm giữ GPLX thì bạn chưa thực sự bị tước GPLX (dù lỗi đó có hình thức xử phạt bổ sung là tước GPLX). Tuy nhiên Biên bản chỉ có tác dụng thay thế GPLX (đã bị tạm giữ) trong thời hạn hẹn đến xử lý ghi trong biên bản. Quá ngày “hẹn hò” mà bạn bị “tóm” nữa thì dù có trình biên bản này ra thì vẫn dính thêm lỗi “Không có GPLX” nhé.
* Tạm giữ phương tiện:
Nhiều bạn bị CS dọa “giam xe”, tuy nhiên không phải cứ “thích” là “giam”. Nếu bạn vi phạm các lỗi nặng (chủ yếu do lỗi về nồng độ cồn, ma túy, đua xe, lạng lách), không có bằng lái hoặc đăng ký xe thì mới bị tạm giữ. Việc tạm giữ phương tiện phải tuân theo quy định của Điều 125, Luật xử lý Vi phạm hành chính và phải có Quyết định (Biên bản) tạm giữ phương tiện đàng hoàng.
Khi vi phạm những lỗi có hình thức xử phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện" thì bạn sẽ bị lập biên bản tạm giữ phương tiện. Thời hạn tạm giữ phương tiện được tính từ ngày phương tiện bị tạm giữ thực tế (ngày vi phạm, bị lập biên bản, tạm giữ xe). Bạn có thể nhận lại xe ngay sau khi thi hành QĐ xử phạt (nộp tiền phạt). Lưu ý mình phải chịu phí giữ xe nên cần nộp phạt sớm để lấy xe sớm, đỡ tiền.
Bạn có thể sử dụng điện thoại để ghi lại hình ảnh phương tiện của mình thời điểm bị tạm giữ để có cơ sở khiếu nại nếu trong quá trình họ giữ xe bị hư hỏng, mất mát.
Khi không xuất trình được GPLX HOẶC Giấy đăng ký xe thì bạn sẽ bị lập biên bản lỗi "Không có Giấy...". Các lỗi này đều có hình thức xử phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện" nên CSGT sẽ tạm giữ xe của bạn (có ghi trong BB giao cho bạn). Trong thời hạn hẹn ghi trong biên bản mà bạn xuất trình được các loại giấy tờ trên khi đến giải quyết thì sẽ chuyển thành lỗi "Không mang theo Giấy..." và bạn có thể lấy xe ngay sau khi nộp phạt.
*Tước Giấy phép lái xe
Với những vi phạm có hình thức xử phạt bổ sung là "tước GPLX" thì thời hạn tước GPLX được tính từ ngày Quyết định xử phạt có hiệu lực. Nếu QĐ xử phạt có hình thức "tước GPLX" mà vẫn đang trong thời hạn tước thì QĐ đó không thể thay thế được GPLX (dù đã nộp phạt hay chưa).
Thêm một phần trả lời thắc mắc của một bạn về việc "tạm giữ" và "giam bằng", "giam xe"
a. TẠM GIỮ GPLX để đảm bảo thi hành QĐ xử phạt, nói nôm na là giữ để "làm tin". Việc tạm giữ xảy ra khi CSGT phát hiện vi phạm và lập biên bản bạn ("Biên bản" chưa quyết định hình thức xử phạt) thì sẽ giữ GPLX để "làm tin" và giao cho bạn Biên bản. Lúc này bạn chưa thực sự bị tước GPLX. Trong thời hạn hẹn ghi trong biên bản thì Biên bản vẫn có tác dụng thay thế GPLX để xuất trình khi bị kiểm tra.
b. TƯỚC GPLX là hình thức xử phạt bổ sung khi bạn vi phạm một số lỗi nặng. Ví dụ bạn vượt đèn đỏ, CSGT "tóm" và lập biên bản bạn lỗi "không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu giao thông" (lỗi này có hình thức xử phạt bổ sung là “tước GPLX”) , tạm giữ GPLX hẹn ngày giải quyết. Lúc này bạn chưa thực sự bị tước GPLX, nếu hôm sau lượn đường bạn bị túm tiếp thì có thể trình Biên bản thay cho GPLX. Đến khi bạn nhận QĐ xử phạt, trong QĐ có ghi hình phạt bổ sung là tước "GPLX 1 tháng, kể từ ngày x đến ngày" thì trong thời gian bị tước đó bạn không được đi xe (theo luật). Nếu đi mà bị túm tiếp thì trình QĐ xử phạt ra cũng không ăn thua và bị phạt thêm lỗi "Không có GPLX".
c. CSGT sẽ tạm giữ phương tiện khi bạn vi phạm những lỗi có hình phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện". Thông thường chỉ các lỗi nặng thôi. Bạn xem cụ thể trong file excel tổng hợp mức phạt giao thông, dùng chức năng lọc dữ liệu để xem những lỗi bị giữ xe nhé.
Trường hợp bạn không xuất trình được GPLX hoặc ĐK xe thì CSGT cũng giữ xe (vì khi đó sẽ lập biên bản lỗi "Không có giấy....", lỗi này có hình phạt bổ sung giữ xe).
Trong thời hạn hẹn, bạn xuất trình được giấy tờ thì sẽ được chuyển về lỗi "Không mang theo giấy...." (lỗi này không bị hình phạt bổ sung giữ xe), bạn nộp phạt và lấy xe luôn.
Theo quy định, trong vòng 07 ngày kể từ ngày lập biên bản thì người có thẩm quyền xử phạt sẽ phải ra QĐ xử phạt (Vì thế bạn cần chú ý thời hạn hẹn ghi trong biên bản có quá ngắn hay không để ý kiến kịp thời) dù bạn có đến xử lý hay không. Nếu vì một lý do nào đó bạn không thể đến đúng hẹn được thì có thể đến sau (muộn cả tháng vẫn được), tuy nhiên vì quá thời gian "hẹn hò" nên khi đó QĐ xử phạt đã có và giữ nguyên những lỗi trong Biên bản, bạn không còn quyền bổ sung thông tin để thay đổi lỗi nữa. Đồng thời Biên bản quá hạn không có tác dụng thay thế GPLX nữa, nếu bạn vi phạm mà bị "tóm" nữa mà trình BB quá hạn đó ra thì vẫn bị phạt "Không có GPLX" khá nặng đô.
Trong trường hợp nhận QĐ xử phạt muộn so với ngày hẹn, bạn có thể yêu cầu (hoặc người giao QĐ sẽ tự ghi, bạn ký) ghi rõ ngày nhận QĐ. Nếu có ngày nhận này thì dù QĐ có ra cách đấy cả năm thì khi nộp phạt tại kho bạc bạn vẫn không bị thêm tiền chậm nộp vì mốc để tính ngày chậm nộp là từ ngày NHẬN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT.
Hiện nay, theo Thông tư 45/2014/TT-BCA, ngày 15 tháng 10 năm 2014 của Bộ Công an thì dù chưa đến ngày hẹn giải quyết, bạn có thể đến nơi xử lý đề nghị ra QĐ xử phạt luôn, nếu đã rõ ràng, không cần xác minh thêm thì họ có thể xử lý luôn, xong sớm, lấy giấy tờ sớm, về sớm.
Các bạn lưu ý đối với trường hợp không mang theo giấy tờ: Theo quy định, nếu xuất trình được giấy tờ TRONG THỜI HẠN hẹn giải quyết ghi trên biên bản thì sẽ chỉ bị xử phạt lỗi "Không mang theo giấy...". Tuy nhiên có nhiều trường hợp người vi phạm đến trong thời hạn hẹn nhưng lại không được giải quyết (hẹn lại, CSGT đi nghỉ mát, sếp không có nhà....), hôm sau quay lại thì đã quá hạn hẹn ghi trên biên bản => bị phạt lỗi "Không có Giấy..." nặng hơn nhiều. Do đó, khi bất kỳ ai hẹn lại thì các bạn cần yêu cầu người đó ghi ngày hẹn lại vào mặt sau biên bản, ký tên vào, hoặc ít nhất cần có bằng chứng nào đó chứng minh mình đã đến đúng hẹn nhưng không được giải quyết.
Trong trường hợp không thể trực tiếp đến giải quyết thì bạn có thể đưa giấy tờ cho người khác đến thay nhưng phải làm giấy ủy quyền. Khi làm giấy ủy quyền phải có dấu xác nhận của chính quyền địa phương nơi bạn cư trú. Trong giấy ủy quyền cần ghi rõ số CMND của bạn và người được ủy quyền. Mang theo những giấy tờ cần thiết khác, CSGT sẽ tiến hành giải quyết làm các thủ tục xử lý vi phạm trả lại giấy tờ xe cho người được ủy quyền theo quy định.
Khi đến nơi, người xử lý (không hẳn là người lập biên bản) sẽ làm việc với bạn dựa trên Biên bản (có chữ ký của cả bạn lẫn người lập biên bản), và các tình tiết bạn cung cấp thêm. Sau khi xác minh các tình tiết, họ sẽ ra một Quyết định xử phạt giống thế này:
Theo quy định thì bạn sẽ được giao 02 bản Quyết định này để bạn giữ 1 bản và nơi thu tiền phạt giữ 1 bản.
Lưu ý khi C.A muốn phạt ai, phạt bao nhiêu tiền… đều phải dựa trên Quyết định xử phạt, giấy trắng mực đen dấu đỏ, ký cọt đàng hoàng nhé (kể cả phạt tại chỗ, phạt cảnh cáo). Các chú có NÓI phạt bao nhiêu cũng không cần lo lắng. Trong QĐ xử phạt sẽ ghi các lỗi mình bị phạt; mức tiền phạt cho từng lỗi… các bạn chỉ phải nộp đúng số tiền ghi trong QĐ thôi. Để có thể tra cứu mức phạt thì có thể làm theo các cách bài này https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/posts/783036861795351
Có một số trường hợp không ra Quyết định xử phạt được quy định tại Luật xử lý VPHC:
Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính
Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:
1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;
2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;
3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;
4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;
5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.
Ví dụ bạn đi đúng làn nhưng BẤT NGỜ có một xe chèn lên làm bạn bắt buộc phải lách ra làn ngoài để tránh và bị bắt lỗi “sai làn”, đây là tình huống cấp thiết nên dù có vi phạm nhưng không bị xử lý. Nếu họ cố tình lập biên bản thì bạn yêu cầu ghi vào phần "ý kiến" về tình huống bất ngờ đó rồi mới ký, khi đến nơi "hẹn hò" sẽ làm việc, trình bày theo Luật với người ra QĐ xử phạt sau.
11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
4. Thủ tục nộp tiền phạt
Khi đã có Quyết định xử phạt (có lập biên bản) thì bạn sẽ phải nộp phạt tại kho bạc.
Khi cầm Quyết định xử phạt (kể cả QĐ xử phạt "tại chỗ") trên tay thì bạn có thể xuất trình khi bị kiểm tra thay cho GPLX (đã bị tạm giữ) trừ trường hợp trong QĐ xử phạt có hình thức xử phạt bổ sung là "tước GPLX" và vẫn đang trong thời hạn bị tước GPLX.
Bài viết dựa trên cơ sở Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 81/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 97/2017/NĐ-CP; Thông tư 153/2013/TT-BTC; Thông tư 45/2014/TT-BCA; Thông tư 37/2017/TT-BGTVT...
Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thìmức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.
Ví dụ bạn bị lỗi "không đội mũ bảo hiểm", trong NĐ 46 quy định mức phạt là từ 100K đến 200K, như vậy nếu có tình tiết tăng nặng (tái phạm, lăng mạ CA, che giấu hành vi...) thì mức phạt là 200K; nếu có tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn, tự nguyện khai báo; có hành vi giảm bớt hậu quả...) thì mức phạt là 100K. Còn thông thường thì sẽ lấy mức trung bình cộng là 150K. Do đó nếu bị "dọa" hay "ép" vào mức phạt cao nhất thì bạn cần nêu ý kiến, thể hiện rõ vào biên bản.
Mong nhận được sự góp ý của các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.
1. Đi xe đạp điện có phải đội mũ bảo hiểm hay không?
Với mô tô thì ai cũng biết là phải đội mũ bảo hiểm rồi. Còn đối với xe đạp điện? Ad thấy nhiều bạn học sinh đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm, như vậy có vi phạm luật không?
Khoản 2, Điều 31, Luật GTĐB quy định:
Điều 31. Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác
2. Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách.
Ơ... liên quan gì đến xe đạp điện nhỉ? Xe đạp máy có phải là xe đạp điện không?
Các bạn mở Nghị định 46/2016/NĐ-CP có quy định rõ tại Điểm e, Khoản 1, Điều 3:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Lĩnh vực giao thông đường bộ:...e) Xe đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp điện).
Vậy là đã rõ, "xe đạp điện" chính là "xe đạp máy", mà đã điều khiển, ngồi trên "xe đạp máy" là phải đội mũ bảo hiểm nhé.
2. Đội mũ bảo hiểm "thời trang" có bị phạt không?
Page có nhận được một số câu hỏi của các bạn thắc mắc vì bị CSGT xử phạt khi đội "mũ bảo hiểm thời trang", mũ bảo hiểm "không đạt chuẩn". Page xin giải đáp như sau:
Ngày trước, Nghị định 34/2010/NĐ-CP chỉ sử dụng cụm từ "mũ bảo hiểm" trong quy định xử phạt người "không đội mũ bảo hiểm", do đó chỉ cần có đội mũ bảo hiểm công nhân, mũ bảo hiểm chơi thể thao, mũ bảo hiểm xe đạp... là đáp ứng yêu cầu, không bị phạt.
i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;
k) Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
Tuy nhiên, sang Nghị định 171/2013/NĐ-CP và hiện tại là NĐ 46/2016/NĐ-CP đã cụ thể hơn quy định này bằng cách sử dụng cụm từ "mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy" (sau đây gọi tắt là "mũ bảo hiểm mô tô").
3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:...i) Người Điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy”không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;
k) Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy”không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
Như vậy, nếu đội các loại mũ bảo hiểm khác mà không phải là loại "mũ bảo hiểm mô tô" thì đều có thể bị xử phạt. Vậy thế nào là "mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy"? Vấn đề này được quy định tại Thông tư liên tịch 06 /2013/TTLT-BKHCN-BCT-BCA-BGTVT
Điều 3. Quy định về mũ bảo hiểm, kinh doanh mũ bảo hiểm
1. Mũ bảo hiểm cho người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy đội khi tham gia giao thông (sau đây viết tắt là mũ bảo hiểm) là mũ có đủ các tính năng sau:
a) Có cấu tạo đủ 3 bộ phận: vỏ mũ, đệm hấp thụ xung động bên trong vỏ mũ (đệm bảo vệ) và quai đeo; có kiểu dáng đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch này;
b) Đã được chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 2 : 2008/BKHCN ban hành kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; được gắn dấu hợp quy CR, ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Như vậy, mũ bảo hiểm "thời trang" thông thường không phải là "mũ bảo hiểm mô tô", không đáp ứng được tiêu chuẩn của "mũ bảo hiểm mô tô" (không có lớp xốp làm đệm hấp thụ xung động). Không có quy định xử phạt nếu đội "mũ bảo hiểm thời trang" tuy nhiên nếu không đội "mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy" thì các bạn sẽ bị phạt.
Vì trách nhiệm của người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy (bao gồm cả xe đạp điện) là phải đội mũ "đạt chuẩn" như quy định tại Khoản 1, đồng thời cài quai đúng quy cách như hướng dẫn tại Khoản 2, Điều 8, Thông tư 06. Nếu cài quai lỏng lẻo, dễ bị tuột thì hoàn toàn có thể bị xử phạt
Điều 8. Trách nhiệm của người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy
Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe đạp máy khi tham gia giao thông có trách nhiệm:
1. Đội mũ bảo hiểm theo đúng quy định của pháp luật.
2. Cài quai mũ theo quy định sau đây:
a) Kéo quai mũ bảo hiểm sang hai bên rồi đội mũ và đóng khóa mũ lại. Không được để quai mũ lỏng lẻo mà phải đóng khít với cằm;
b) Sau khi đội mũ bảo hiểm cần kiểm tra lại bằng cách: dùng tay kéo mũ từ đằng sau ra đằng trước hoặc nâng phần trên trước trán (hoặc phần cằm đối với mũ cả hàm) lên rồi kéo ra đằng sau, mũ không được bật ra khỏi đầu.
Có thể các bạn sẽ thắc mắc cơ quan chức năng đâu mà để bán mũ bảo hiểm giả, mbh kém chất lượng để dân bị mắc lừa rồi lại đi phạt dân mà không phạt người bán. Page xin góp ý như sau:
Nếu đúng "mbh mô tô", loại "nồi cơm điện" nhưng là đồ giả, hàng dỏm, xốp tàu, tem giả... thì đó mới là trách nhiệm của QLTT. Dân mua và đội nhầm mũ "Fake 1" này thì không phạt được vì đã đội đúng loại "mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy" mỗi tội bị lừa mua trúng hàng giả. Còn loại "mbh thời trang" không phải là "mbh mô tô" mà là mbh chơi thể thao, mbh xe đạp, mbh công nhân... "Fake 2" này vẫn được bán hoàn toàn hợp pháp, dành cho ông đua ngựa, ông đi xe đạp..., nên ông QLTT chẳng có lý do gì mà tịch thu cả.
Fake 2, "mũ bảo hiểm thời trang", được bán hoàn toàn hợp pháp tuy nhiên đi mô tô, xe máy mà đội cái này là "ăn chưởng"
Quan trọng là "dân" đa phần vẫn mang tâm lý đối phó là chính nên mua cái loại "Fake 2" cho nó nhẹ đầu, phạt là phạt trường hợp này vì "fake 2" không phải là "mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy" dù có thể đó là đồ xịn, mbh xe đạp hàng ngoại hay mbh đua ngựa hàng chính hãng tây mũi lõ.
3. Bao nhiêu tuổi phải đội mũ bảo hiểm?
Khoản 2, Điều 30, Luật GTĐB quy định:
Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách.
Tuy nhiên, trong Nghị định quy định xử phạt đã loại trừ trường hợp chở trẻ em dưới 6 tuổi (Điểm k, Khoản 3, Điều 6) nên có thể coi trẻ em từ 6 tuổi trở lên mới phải đội mũ bảo hiểm.
Thời gian gần đây, rất nhiều báo, thậm chí VTV đã đăng tải thông tin "Từ 1/8, vượt đèn vàng phạt như vượt đèn đỏ". Về vấn đề này, Page phân tích như sau.
Đầu tiên, xin khẳng định luật không hề ghi rõ lỗi "Vượt đèn vàng"
Trong các Nghị định xử phạt VPHC về giao thông từ trước đến nay đều không hề ghi rõ quy định xử phạt "vượt đèn vàng". Mọi quan điểm đều được suy luật rằng "vượt đèn vàng" chính là lỗi "Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông" trong Nghị định. Vậy suy luận này có đúng không?
Điểm c, Khoản 3, Điều 10, Luật GTĐB quy định:
Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.
Điểm này được cụ thể hóa trong QCVN 41/2012 của Bộ Giao thông vận tải:
9.3.2 Tín hiệu vàng: Báo hiệu sự thay đổi tín hiệu của đèn. Tín hiệu vàng bật sáng, người điều khiển phương tiện phải cho xe dừng trướcvạch sơn “Dừng lại”. Trường hợp phương tiện và người đi bộ đã vượt quá vạch sơn “Dừng lại”, nếu dừng lại sẽ nguy hiểm thì phải nhanh chóng đi tiếp ra khỏi nơi giao nhau;9.3.3 Tín hiệu vàng nhấp nháy: Là được đi nhưng phải chú ý và thận trọng quan sát.
Đa số mọi người hiểu theo ý nghĩa “xe nào chưa đến vạch dừng trước khi đèn vàng bật sáng thì phải dừng lại; xe nào đã qua vạch dừng trước khi đèn vàng bật sáng mới được đi”
Mọi suy luật tương tự từ trước đến nay đều dừng ngay ở câu “Phải dừng lại” và nhấn mạnh câu này như một mệnh lệnh phải được thực hiện tức thì. Tuy nhiên suy luận này làm sai mất ý nghĩa của “đèn vàng” vì tín hiệu vàng xuất hiện bất ngờ cần một thời gian để phản xạ, xử lý, đáp ứng. Nếu “phải dừng lại”, không dừng lại là vi phạm thì “đèn vàng” chẳng khác gì “đèn đỏ”.
Như trong toàn bộ thời gian đèn đỏ đang sáng (có hiệu lực) thì phương tiện đều phải dừng lại chứ không phải thời điểm đèn đỏ bật sáng thì phải dừng, sau đó không cần tuân theo. Hiệu lực của “Tín hiệu vàng” ở đây cần được hiểu là hiệu lực trong cả khoảng thời gian ĐÈN VÀNG ĐANG SÁNG, từ lúc bật cho đến lúc tắt. Trong khoảng thời gian "đèn vàng" này, nếu không thể dừng lại an toàn thì xe vẫn có thể vượt qua vạch sơn "dừng lại" mà không sai luật.
Có thể diễn giải như sau:
Khi đèn vàng: - Các phương tiện dừng lại được (kịp thời) an toàn thì phải dừng lại trước vạch dừng. - Các phương tiện không dừng lại được (kịp thời) an toàn trước vạch mà phải đi quá vạch dừng thì được đi tiếp
Đèn vàng nhấp nháy: không phải dừng (Nhiều ý kiến “troll” rằng ban đêm đèn vàng nhấp nháy thì phải dừng đến sáng đợi đèn xanh ^-^)
Sắp tới đây, khi QCVN 41/2016 có hiệu lực thì việc "không có lỗi vượt đèn vàng" càng rõ ràng hơn.
QCVN 41/2016:
10.3.2. Tín hiệu vàng: báo hiệu sự thay đổi tín hiệu của đèn từ xanh sang đỏ. Tín hiệu vàng bật sáng, người điều khiển phương tiện phải cho xe dừng trước vạch sơn “Vạch dừng xe”. Nếu không có vạch sơn “Vạch dừng xe”, thì phải dừng phía trước đèn tín hiệu theo chiều đi. Trường hợp phương tiện đã tiến sát đến hoặc đã vượt quá vạch sơn “Vạch dừng xe”, nếu dừng lại sẽ nguy hiểm thì phải nhanh chóng đi tiếp ra khỏi nơi giao nhau
Như vậy, suy luận “xe nào chưa đến vạch dừng trước khi đèn vàng bật sáng thì phải dừng lại; xe nào đã qua vạch dừng trước khi đèn vàng bật sáng mới được đi” hoàn toàn bị quy định mới này loại bỏ. Thậm chí nếu dừng đột ngột trước vạch gây nguy hiểm hoàn toàn có thể bị phạt lỗi “Không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu giao thông” (vì quy định chỉ rõ “nếu dừng lại sẽ gây nguy hiểm thì PHẢI nhanh chóng đi tiếp”)
Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định trong Công ước Viên 1968 về Biển báo và Tín hiệu Đường bộ mà Việt Nam đã tham gia
Văn bản dẫn chiếu: Luật giao thông đường bộ 2008; Quy chuẩn quốc gia về báo hiệu đường bộ gồm QCVN 41/2012, QCVN 41/2016 (thay thế QCVN 41/2012 từ ngày 01/11/2016);
Mọi phân tích đều dựa theo luật định. Các bạn vui lòng không đề cập các vấn đề về ý thức, đạo đức...
Page nhận được khá nhiều câu
hỏi của các bạn về vấn đề chưa đủ tuổi mà vi phạm giao thông thì bị xử
phạt như thế nào? Bao nhiêu tuổi được điều khiển xe mô tô, xe gắn máy…
Xin tổng hợp thông tin chung cho các bạn biết.
Định viết ngắn gọn nhưng để mọi người hiểu cặn kẽ thì Ad trình bày lòng thòng thêm chút nữa. Ai muốn ngắn gọn thì đọc các phần Tóm lại được in đậm và gạch chân. Bài viết chủ yếu dành cho đối tượng điều khiển mô tô.
Luật GTĐB quy định về tuổi của người lái xe như sau:
Điều 60. Tuổi, sức khỏe của người lái xe 1. Độ tuổi của người lái xe quy định như sau: a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3; b)
Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh
có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương
tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người
đến 9 chỗ ngồi; …
Các khái niệm "xe gắn máy", "xe mô tô" được quy định trong Điều 3, QCVN 41:2016/BGTVT như sau:
3.39. Xe môtô (hay còn gọi là xe máy)
là xe cơ giới hai hoặcba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng
động cơ có dung tích xy lanh từ50 cm3 trở lên, tải trọng bản thân xe
không quá 400 kg đối với xe máy 2 bánh hoặckhối lượng chuyên chở cho
phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toànkỹ thuật và bảo vệ
môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ từ 350 kgđến 500 kg
đối với xe máy 3 bánh. Khái niệm này không bao gồm xe gắn máy nêu
tạiKhoản 3.40 quy định tại Điều này.
3.40. Xe gắn máy là
chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, cóhai bánh hoặc ba bánh và vận tốc
thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫnđộng là động cơ nhiệt
thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương khôngđược lớn hơn 50
cm3.
Và trong Khoản 1, Điều 3, Nghị định 46/2016/NĐ-CP:
c)
Các loại xe tương tự xe mô tô là phương tiện giao thông đường bộ chạy
bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh, có dung tích làm việc của động
cơ từ 50 cm3 trở lên, có vận tốc thiết kế lớn nhất lớn hơn 50 km/h, có
khối lượng bản thân không lớn hơn 400 kg;
d) Xe máy điện là xe gắn
máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn
4 kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h;
đ) Các
loại xe tương tự xe gắn máy là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng
động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không
lớn hơn 50 km/h, trừ các xe quy định tại Điểm e Khoản này;
e) Xe
đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất
không lớn hom 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp
điện).
Tóm lại 1: Tuổi được điều khiển các loại xe cơ giới
- Dưới 16 tuổi: Xe thô sơ thôi.
- Đủ 16 tuổi thì đượcđiều khiển xe gắn máy; - Đủ 18 tuổi và có GPLX phù hợp mới được điều khiển xe mô tô trở lên.
Nếu
không đủ tuổi để điều khiển các loại xe như trên (đồng nghĩa với việc
chưa được cấp GPLX) thì các bạn đã vi phạm, có thể bị xử phạt.
Điều 21. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới
1.
Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô,
xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc
điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô.
....
4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;
...
5.
Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển
xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô
tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa;
6.
Phạt tiền từ 1.200.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo, các loại xe tương tự
xe ô tô.
7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000
đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3
trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm một
trong các hành vi sau đây:
a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 06 (sáu) tháng trở lên;
Tóm lại 2: Khi vi phạm "Không có GPLX" đối với mô tô:
-
Dưới 16 tuổi thì sẽ không bị phạt tiền mà chỉ bị phạt cảnh cáo, cảnh
cáo bằng văn bản, cũng ra Quyết định xử phạt theo hình thức CẢNH CÁO
đàng hoàng.
- Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị phạt 500.000đ.
- Đủ 18 tuổi thì bị phạt 1.000.000đ.
Lưu ý, cả 3 trường hợp trên đều có thể bị tạm giữ phương tiện 07 ngày.
Có thể chứng minh độ tuổi bằng các loại giấy tờ như giấy khai sinh, CMND, hộ khẩu….
Trên là đối với trường hợp không có GPLX. Còn đối với các lỗi khác thì sao?
Khoản 3, Điều 134, Luật xử lý vi phạm hành chính quy định
3.
Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người
chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên
có cùng hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền. Trường
hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt
tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người
thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng
thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải
thực hiện thay;
Tóm lại 3: Đối với các lỗi khác:
- Dưới 16 tuổi không bị phạt tiền;
- Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Được "khuyến mại giảm giá" 50% tiền phạt
- Đủ 18 tuổi: Hết thời gian khuyến mãi, nộp đủ 100% tiền phạt.
Nhưng chưa hết
Luật GTĐB quy định:
Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông 1.
Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại
Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được
phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Như
vậy, nếu chưa đủ 18 tuổi hoặc không có bằng lái (trừ xe gắn máy, dưới
50cm3) thì nghĩa là không đủ điều kiện lái xe. Nếu lái xe thì ngoài việc
bị phạt ra, người giao xe (chủ xe) cho người vi phạm sẽ bị phạt theo quy định tạiĐiểm đ, Khoản 4, Điều 30, Nghị định 46/2016/NĐ-CP:
4.
Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ
1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe
gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi
vi phạm sau đây:
đ) Giao xe hoặc để cho
người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao
thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp
người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử
dụng).
Tóm lại 4: Nếu chưa đủ tuổi; không có GPLX thì ngoài việc người điều khiển bị phạt ra, người giao xe cũng bị liên đới trách nhiệm và bị phạt 900.000đ.
Các em dưới 16 tuổi đừng vội mừng ... khà... khà....
Page nhận được khá nhiều câu
hỏi của các bạn về vấn đề thay đổi màu sơn của xe, dán lại xe.... Đồng
thời có thấy một số bài tư vấn về lỗi "tem xe" không cung cấp đầy đủ
thông tin nên Ad viết bài này trình bày những vấn đề nắm được về "tem
xe".
Tại Khoản 2, Điều 55, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:
Chủ
phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe
không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
1.
Phạttiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000
đồng đến400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các
loại xe tươngtự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau
đây:
a) Tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe;
...
2.
Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân, từ 600.000
đồng đến800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy
chuyên dùng và cácloại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành
vi vi phạm sau đây:
a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;
b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;
Như vậy, nếu bạn tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe mô tô hoặc tự ý thay đổi màu sơn của xe ô tô không đúng với những gì ghi trong Giấy đăng ký xe thì bạn mới bị xử phạt (mô tô 150.000đ; ô tô 350.000đ)
Ví dụ về "nhãn hiệu", "màu sơn" ghi trong Giấy đăng ký xe ở mục như hình dưới đây:
- Về màu sơn:
Trong
Giấy đăng ký xe không ghi cụ thể về màu sắc nên xét về Luật, bạn có thể
thay đổi nhưng cần đảm bảo màu sơn của xe bạn vẫn đúng màu ghi trong
giấy ĐK xe là được. ví dụ giấy ĐK xe bạn ghi màu "xanh - đen - bạc" thì
không phân biệt "xanh lá cây - Đen - Bạc", "Đen - Xanh da trời - Bạc",
"Bạc - Đen - xanh lam"....
- Về nhãn hiệu:
Như trong ví dụ trên, xe có "nhãn hiệu" là Honda, thì bạn chỉ cần đảm bảo giữ đúng nhãn hiệu là Honda,
không thay thành Yamaha, BMV... và không có lỗi nào gọi là lỗi "tem
xe". Thậm chí ad còn chưa thấy quy định xử phạt lỗi thay đổi mục "Số
loại".
Do màu sơn không ảnh hưởng nhiều đến tổng thể
của xe cũng như độ an toàn của xe khi lưu thông nên Luật không hoàn toàn
cấm việc thay đổi màu sơn. Bạn có thể thay đổi màu sơn tùy thích, truy
nhiên trước khi thay đổi bạn cần tiến hành các thủ tục thay đổi màu sơn
(đổi giấy ĐK xe).
Trong trường hợp CSGT yêu cầu xử
phạt bạn về những lỗi này, bạn có thể ghi hình trực tiếp về nhãn hiệu,
màu sơn thực tế của xe và màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe để có chứng
cứ tranh luận khi đến giải quyết.
Page không khuyến
khích việc tự ý thay đổi màu sơn, gây tranh cãi giữa "xanh - đen" và
"xanh lá cây - đen", "xanh da trời - đen"... nhưng cũng cung cấp cho các
bạn các quy định như trên để bạn tự quyết định. Việc có bị phạt hay
không ngoài việc đúng - sai mà đôi khi còn liên quan đến kiến thức pháp
luật, quan điểm riêng của người thi hành công vụ lẫn của các bạn nên các
bạn đừng hỏi "có bị phạt hay không".
Chúc bạn tranh luận thành công, đừng bắt đền Page nhé :D
Bởi nhiều trường hợp công an lợi dụng người vi phạm không biết luật
nên “hét giá” mức phạt gấp 3-4 lần nhằm “dọa” cho người vi phạm sợ mà
“thôi em xin…” để rồi đòi "đút lót" mới cho đi, trong khi mức phạt thực
tế nhỏ hơn nhiều (có bạn bị lỗi theo luật là phạt 70K, CA dọa lỗi này
500K, bạn ấy xin xuống được thành 250K mà vẫn tưởng được ban ơn) =>
nếu chịu khó mất chút công, làm đúng luật thì đỡ thiệt hại hơn nhiều mà
ít ra tiền được đóng góp ngân sách nhà nước chứ không rơi vào túi bọn
tham nhũng. Tuy rằng làm đúng luật sẽ mất công hơn một chút nhưng mình
sai mình chịu phạt, coi như mất tiền để có kinh nghiệm an toàn, không
phải xin xỏ ai và cũng không mang ấm ức trong lòng. CA dần rồi cũng sẽ
ít bắt láo hơn.
Ad viết những dòng trên có đồng chí công an nào đọc được cũng cần tự xem lại mình, nếu mình trong sạch thì không cần tự ái.
Dưới
đây Ad trình bày một quy trình cơ bản theo quy định để các bạn biết
được, tránh bị dọa dẫm, phạt sai lỗi, sai mức tiền phạt, sai thẩm
quyền... Sở dĩ ad chỉ ghi chung là “Công an” bởi đôi khi Công an
phường, Công an xã, Cảnh sát trật tự, 113 thậm chí là Thanh tra giao
thông… cũng có thể dừng xe và xử lý bạn (có trường hợp CSGT còn dọa phạt
lỗi không mang theo chứng minh thư nhân dân). Nếu không đang thực thi
nhiệm vụ, không có thẩm quyền phạt hay định phạt láo, “dọa dân” thì họ
sẽ không làm theo quy trình, không dám viết ra giấy trắng mực đen như
tình hình thực tế.
Tóm tắt quy trình: Dừng xe, báo lỗi => - Nếu mức phạt 250K trở xuống => QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT TẠI CHỖ (Mục 1) nộp tại chỗ hoặc ra kho bạc. -
Nếu mức phạt trên 250K thì LẬP BIÊN BẢN (Mục 2), để lại giấy tờ rồi đi,
hôm khác đến nhận QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT (Mục 3), đóng phạt tại kho bạc
Khi bạn bị dừng xe, sau khi thực hiện quy trình như đã trình bày ở Note trước (Kinh nghiệm xử lý từ A-Z http://goo.gl/oruIwv
), nếu thấy đã đúng lỗi hoặc không biết rõ lỗi, bạn cũng nên yêu cầu
lập biên bản (hoặc ra Quyết định xử phạt tại chỗ), giấy trắng mực đen
rồi đi hỏi sau, nếu họ “làm láo” thì giấy tờ đó là cơ sở để khiếu nại
sau này.
1. Đối với Quyết định xử phạt “tại chỗ”. Trích Luật xử lý vi phạm hành chính:
Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
1.
Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường
hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân,
500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.
Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.
Như vậy, đối với vi phạm có mức phạt từ 250.000 trở xuống (đối với từng hành vi) thì họ PHẢI
ra "Quyết định xử phạt VPHC theo thủ tục không lập biên bản", quy định
này tạo điều kiện cho người vi phạm có thể giải quyết sớm nhất có thể vi
phạm của mình, không buộc phải đợi trong vòng 7 ngày mới đi lấy QĐ xử
phạt, nộp tiền kho bạc….
Quyết định xử phạt tại chỗ trông giống thế này:
Sau
khi ra “Quyết định xử phạt theo thủ tục không lập biên bản”, bạn sẽ nộp
phạt ngay tại chỗ cho người ra QĐ xử phạt và người xử phạt có trách
nhiệm giao cho bạn biên lai in sẵn mệnh giá giống như thế này:
(Tờ màu hồng)
Sẽ
có nhiều mệnh giá (có màu khác nhau) để “ghép” cho đúng số tiền bị phạt
ghi trong QĐ xử phạt. Các bạn nhớ lấy biên lai, giữ 1 bản Quyết định xử
phạt nhé, như vậy mới chắc là ta đã đóng góp vào ngân sách nhà nước.
Nộp tiền xong, lấy biên lai, cầm QĐ xử phạt và giấy tờ rồi đi thôi.
Bởi theo quy định tại Điều 69, Luật xử lý vi phạm hành chính, "Thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản" thì người vi phạm nộp tiền tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt. Trường hợp người vi phạm KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NỘP PHẠT TẠI CHỖ thì mới ra kho bạc.
Nếu
C.A khi nghe đòi biên lai bèn nói “hết biên lai” thì bạn có thể yêu cầu
họ ghi (ở mặt sau QĐ, hoặc yêu cầu ghi âm) rõ lý do họ yêu cầu mình ra
kho bạc, đại khái "Tôi, trung úy xxx hết biên lai tại chỗ, yêu cầu anh
abc nộp phạt tại kho bạc". Việc "hết biên lai" (thường là lấy cớ) là lỗi
của người thi hành công vụ, không phải vì lỗi của mình mà buộc người vi
phạm phải mất công. Đã có bạn yêu cầu csgt sang chốt khác lấy biên lai
về xé đầy đủ cho mình mới chịu đi rồi.
Trường hợp không có tiền nộp tại chỗ thì họ sẽ tạm giữ của bạn MỘT
trong các loại giấy tờ theo thứ tự: GPLX; Đăng ký xe;…. Bạn để lại giấy
tờ, cầm tờ QĐ, lên xe đi vay tiền rồi phi ra kho bạc vậy, nộp phạt xong
họ cũng sẽ giao cho mình một tờ biên lai, mang biên lai này về trình
cho người phạt rồi lấy lại giấy tờ vi vu. Hoặc không tiện thì để hôm
khác ra kho bạc nộp rồi cầm biên lai đến cơ quan của người xử phạt
(Phòng CSGT, Đội CSGT .... được ghi trong QĐ xử phạt) để xuất trình, lấy
lại giấy tờ.
Khi đến nộp phạt tại kho bạc hoặc các ngân hàng
được kho bạc ủy quyền thu phạt thì bên thu tiền sẽ giữ bản Quyết định xử
phạt và giao cho bạn biên lai.
Chịu khó mất công một chút để làm đúng luật, không nên tạo điều kiện cho các chú tham nhũng.
Trích Luật xử lý vi phạm hành chính
Điều 125
6.
Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ
chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ
một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc
giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan
đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong
quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói
trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này.
* Nếu không biết rõ đơn vị của
người xử phạt thì bạn cần yêu cầu họ ghi ra mặt sau QĐ xử phạt, đề phòng
trường hợp đi nộp phạt xong quay lại thì các chú đã hết ca thì mình
phải đến đấy để lấy giấy tờ sau. (Thông tư 66)
Hãy coi việc bị
tạm giữ GPLX là điều bình thường, khi cầm Quyết định xử phạt trên tay
rồi thì cái Quyết định đó tạm thời có thể thay thế GPLX để tiếp tục tham
gia giao thông (trừ trường hợp vẫn trong thời gian bị tước GPLX ghi
trong QĐ), khi nào tiện thì đi nộp phạt rồi lấy GPLX sau (quá 10 ngày
kể từ ngày nhận QĐ xử phạt thì mới tính lãi chậm nộp phạt = 0,05% x mức
tiền phạt x số ngày).
Nếu số tiền phạt trên 250.000 (VD mô tô bị lỗi vượt đèn đỏ = 350K, hoặc bị bắn tốc độ) thì “ăn” biên bản như sau: 2. Lập biên bản Biên
bản nôm na là một văn bản để hai bên thống nhất ký xác nhận tình trạng
lúc đó chứ không phải là điều gì quá khủng khiếp để mà các chú hay mang
ra dọa "Lập biên bản nhé". Khi phát hiện vi phạm, người thi hành công vụ
sẽ lập một cái biên bản giống như thế này:
Khi lập biên bản xong, bạn cần đọc lại biên bản, nếu đúng thì mới ký. Trong Biên bản có mục “Ý kiến của người (hoặc đại diện tổ chức) vi phạm”.
Nếu có bất kỳ ý kiến gì thì bạn yêu cầu trình bày ngắn gọn vào đây rồi
mới ký nhé. Đa phần họ sẽ bắt ghi là “đúng lỗi” nhưng đây là phần ý kiến
người vi phạm chứ không phải “ý kiến của người lập biên bản”.
Mục
“ý kiến” này rất quan trọng, nhiều khi tranh luận không ngã ngũ có bạn
không chịu ký biên bản, điều này vô cùng dại dột bởi mình không ký và
giữ 1 bản thì họ hoàn toàn có khả năng ghi bừa thêm lỗi vào rồi nhờ
người nào đó làm người chứng kiến ký vào. Không ký biên bản rồi bị giữ
giấy tờ, phương tiện mà không có bằng chứng họ giữ, sau đến giải quyết
lại mất công đi làm tường trình,…. rất phiền phức. Nên nếu thấy không
đúng thì bạn đòi ghi ý kiến vào mục kia rồi mới ký, điều này hoàn toàn
đúng pháp luật.
Với trường hợp bị “bắn tốc độ”, theo quy định là
phải có hình ảnh. Trường hợp họ không cho xem ngay mà hẹn khi nào nhận
QĐ xử phạt sẽ có hình ảnh thì bạn cũng cần ghi thêm vào mục “ý kiến”
rằng yêu cầu cho xem hình ảnh trước khi ra QĐ xử phạt.
Cầm biên bản trong tay, gửi lại giấy tờ, ta bon bon đi về hẹn ngày tái ngộ.
Lưu
ý: Khi bị lập biên bản và tạm giữ GPLX thì bạn chưa thực sự bị tước
GPLX (dù lỗi đó có hình thức xử phạt bổ sung là tước GPLX). Tuy nhiên
Biên bản chỉ có tác dụng thay thế GPLX (đã bị tạm giữ) trong thời hạn
hẹn đến xử lý ghi trong biên bản. Quá ngày “hẹn hò” mà bạn bị “tóm” nữa
thì dù có trình biên bản này ra thì vẫn dính thêm lỗi “Không có GPLX”
nhé.
* Tạm giữ phương tiện: Nhiều bạn bị CS dọa
“giam xe”, tuy nhiên không phải cứ “thích” là “giam”. Nếu bạn vi phạm
các lỗi nặng (chủ yếu do lỗi về nồng độ cồn, ma túy, đua xe, lạng lách),
không có bằng lái hoặc đăng ký xe thì mới bị tạm giữ. Việc tạm giữ
phương tiện phải tuân theo quy định của Điều 125, Luật xử lý Vi phạm
hành chính và phải có Quyết định (Biên bản) tạm giữ phương tiện đàng
hoàng.
Khi vi phạm những lỗi có hình thức xử phạt bổ sung là
"tạm giữ phương tiện" thì bạn sẽ bị lập biên bản tạm giữ phương tiện.
Thời hạn tạm giữ phương tiện được tính từ ngày phương tiện bị tạm giữ thực tế
(ngày vi phạm, bị lập biên bản, tạm giữ xe). Bạn có thể nhận lại xe
ngay sau khi thi hành QĐ xử phạt (nộp tiền phạt). Lưu ý mình phải chịu
phí giữ xe nên cần nộp phạt sớm để lấy xe sớm, đỡ tiền.
Bạn có
thể sử dụng điện thoại để ghi lại hình ảnh phương tiện của mình thời
điểm bị tạm giữ để có cơ sở khiếu nại nếu trong quá trình họ giữ xe bị
hư hỏng, mất mát.
Khi không xuất trình được GPLX HOẶC Giấy
đăng ký xe thì bạn sẽ bị lập biên bản lỗi "Không có Giấy...". Các lỗi
này đều có hình thức xử phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện" nên CSGT
sẽ tạm giữ xe của bạn (có ghi trong BB giao cho bạn). Trong thời hạn hẹn
ghi trong biên bản mà bạn xuất trình được các loại giấy tờ trên khi đến
giải quyết thì sẽ chuyển thành lỗi "Không mang theo Giấy..." và bạn có
thể lấy xe ngay sau khi nộp phạt. *Tước Giấy phép lái xe Với những vi phạm có hình thức xử phạt bổ sung là "tước GPLX" thì thời hạn tước GPLX được tính từ ngày Quyết định xử phạt có hiệu lực.
Nếu QĐ xử phạt có hình thức "tước GPLX" mà vẫn đang trong thời hạn tước
thì QĐ đó không thể thay thế được GPLX (dù đã nộp phạt hay chưa).
Thêm một phần trả lời thắc mắc của một bạn về việc "tạm giữ" và "giam bằng", "giam xe"
a.
TẠM GIỮ GPLX để đảm bảo thi hành QĐ xử phạt, nói nôm na là giữ để "làm
tin". Việc tạm giữ xảy ra khi CSGT phát hiện vi phạm và lập biên bản bạn
("Biên bản" chưa quyết định hình thức xử phạt) thì sẽ giữ GPLX để "làm
tin" và giao cho bạn Biên bản. Lúc này bạn chưa thực sự bị tước GPLX.
Trong thời hạn hẹn ghi trong biên bản thì Biên bản vẫn có tác dụng thay
thế GPLX để xuất trình khi bị kiểm tra.
b. TƯỚC GPLX là hình thức
xử phạt bổ sung khi bạn vi phạm những lỗi nặng. Ví dụ bạn vượt đèn đỏ,
CSGT "tóm" và lập biên bản bạn lỗi "vượt đèn đỏ", tạm giữ GPLX hẹn ngày
giải quyết. Lúc này bạn chưa thực sự bị tước GPLX, nếu hôm sau lượn
đường bạn bị túm tiếp thì có thể trình Biên bản thay cho GPLX. Đến khi
bạn nhận QĐ xử phạt, trong QĐ có ghi hình phạt bổ sung là tước "GPLX 1
tháng" thì kể từ đó bạn không được đi xe (theo luật). Nếu đi mà bị túm
tiếp thì trình QĐ xử phạt ra cũng không ăn thua và bị phạt thêm lỗi
"Không có GPLX".
c. CSGT sẽ tạm giữ phương tiện khi bạn vi phạm những lỗi có hình phạt bổ sung là "tạm giữ phương tiện".
Thông thường chỉ các lỗi nặng thôi. Bạn xem cụ thể trong file excel
tổng hợp mức phạt giao thông, dùng chức năng lọc dữ liệu để xem những
lỗi bị giữ xe nhé.
Trường hợp bạn không xuất trình được GPLX hoặc
ĐK xe thì CSGT cũng giữ xe (vì khi đó sẽ lập biên bản lỗi "Không có
giấy....", lỗi này có hình phạt bổ sung giữ xe).
Trong thời hạn
hẹn, bạn xuất trình được giấy tờ thì sẽ được chuyển về lỗi "Không mang
theo giấy...." (lỗi này không bị hình phạt bổ sung giữ xe), bạn nộp phạt
và lấy xe luôn.
3. Quyết định xử phạt Theo
quy định, trong vòng 07 ngày kể từ ngày lập biên bản thì người có thẩm
quyền xử phạt sẽ phải ra QĐ xử phạt (Vì thế bạn cần chú ý thời hạn hẹn
ghi trong biên bản có quá ngắn hay không để ý kiến kịp thời) dù bạn có
đến xử lý hay không. Nếu vì một lý do nào đó bạn không thể đến đúng hẹn
được thì có thể đến sau (muộn cả tháng vẫn được), tuy nhiên vì quá thời
gian "hẹn hò" nên khi đó QĐ xử phạt đã có và giữ nguyên những lỗi trong
Biên bản, bạn không còn quyền bổ sung thông tin để thay đổi lỗi nữa.
Đồng thời Biên bản quá hạn không có tác dụng thay thế GPLX nữa, nếu bạn
vi phạm mà bị "tóm" nữa mà trình BB quá hạn đó ra thì vẫn bị phạt "Không
có GPLX" khá nặng đô.
Trong trường hợp nhận QĐ xử phạt muộn so
với ngày hẹn, bạn có thể yêu cầu (hoặc người giao QĐ sẽ tự ghi, bạn ký)
ghi rõ ngày nhận QĐ. Nếu có ngày nhận này thì dù QĐ có ra cách đấy cả
năm thì khi nộp phạt tại kho bạc bạn vẫn không bị thêm tiền chậm nộp vì
mốc để tính ngày chậm nộp là từ ngày NHẬN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT.
Hiện
nay, theo Thông tư 45/2014/TT-BCA, ngày 15 tháng 10 năm 2014 của Bộ
Công an thì dù chưa đến ngày hẹn giải quyết, bạn có thể đến nơi xử lý đề
nghị ra QĐ xử phạt luôn, nếu đã rõ ràng, không cần xác minh thêm thì họ
có thể xử lý luôn, xong sớm, lấy giấy tờ sớm, về sớm.
Các bạn
lưu ý đối với trường hợp không mang theo giấy tờ: Theo quy định, nếu
xuất trình được giấy tờ TRONG THỜI HẠN hẹn giải quyết ghi trên biên bản
thì sẽ chỉ bị xử phạt lỗi "Không mang theo giấy...". Tuy nhiên có nhiều
trường hợp người vi phạm đến trong thời hạn hẹn nhưng lại không được
giải quyết (hẹn lại, CSGT đi nghỉ mát, sếp không có nhà....), hôm sau
quay lại thì đã quá hạn hẹn ghi trên biên bản => bị phạt lỗi "Không
có Giấy..." nặng hơn nhiều. Do đó, khi bất kỳ ai hẹn lại thì các bạn cần
yêu cầu người đó ghi ngày hẹn lại vào mặt sau biên bản, ký tên vào,
hoặc ít nhất cần có bằng chứng nào đó chứng minh mình đã đến đúng hẹn
nhưng không được giải quyết.
Trong trường hợp không thể trực tiếp
đến giải quyết thì bạn có thể đưa giấy tờ cho người khác đến thay nhưng
phải làm giấy ủy quyền. Khi làm giấy ủy quyền phải có dấu xác nhận của
chính quyền địa phương nơi bạn cư trú. Trong giấy ủy quyền cần ghi rõ số
CMND của bạn và người được ủy quyền. Mang theo những giấy tờ cần thiết
khác, CSGT sẽ tiến hành giải quyết làm các thủ tục xử lý vi phạm trả lại
giấy tờ xe cho người được ủy quyền theo quy định.
Khi đến nơi,
người xử lý (không hẳn là người lập biên bản) sẽ làm việc với bạn dựa
trên Biên bản (có chữ ký của cả bạn lẫn người lập biên bản), và các tình
tiết bạn cung cấp thêm. Sau khi xác minh các tình tiết, họ sẽ ra một
Quyết định xử phạt giống thế này:
Theo quy định thì bạn sẽ được giao 02 bản Quyết định này để bạn giữ 1 bản và nơi thu tiền phạt giữ 1 bản.
Lưu
ý khi C.A muốn phạt ai, phạt bao nhiêu tiền… đều phải dựa trên Quyết
định xử phạt, giấy trắng mực đen dấu đỏ, ký cọt đàng hoàng nhé (kể cả
phạt tại chỗ, phạt cảnh cáo). Các chú có NÓI phạt bao nhiêu cũng
không cần lo lắng. Trong QĐ xử phạt sẽ ghi các lỗi mình bị phạt; mức
tiền phạt cho từng lỗi… các bạn chỉ phải nộp đúng số tiền ghi trong QĐ
thôi. Để có thể tra cứu mức phạt thì có thể làm theo các cách bài này https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/posts/783036861795351
Có một số trường hợp không ra Quyết định xử phạt được quy định tại Luật xử lý VPHC:
Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính
Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:
1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;
2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;
3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;
4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;
5.
Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách
nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ
tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
5 của Luật này.
Ví dụ bạn đi đúng làn
nhưng BẤT NGỜ có một xe chèn lên làm bạn buộc phải lách ra làn ngoài để
tránh và bị bắt lỗi “sai làn”, đây là tình huống cấp thiết nên dù có vi
phạm nhưng không bị xử lý. Nếu họ cố tình lập biên bản thì bạn yêu cầu
ghi vào phần "ý kiến" về tình huống bất ngờ đó rồi mới ký, khi đến nơi
"hẹn hò" sẽ làm việc, trình bày theo Luật với người ra QĐ xử phạt sau.
11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì
muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ
chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không
còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn
ngừa.
Khi đã có Quyết định xử phạt (có lập biên bản) thì bạn sẽ phải nộp phạt tại kho bạc.
Khi
cầm Quyết định xử phạt (kể cả QĐ xử phạt "tại chỗ") trên tay thì bạn có
thể xuất trình khi bị kiểm tra thay cho GPLX (đã bị tạm giữ) trừ trường
hợp trong QĐ xử phạt có hình thức xử phạt bổ sung là "tước GPLX" và vẫn
đang trong thời hạn bị tước GPLX.
Bài viết dựa trên cơ sở Luật
xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 81/2013/NĐ-CP; Thông tư
153/2013/TT-BTC; Thông tư 45/2014/TT-BCA; Thông tư 05/2014/TT-BGTVT...
Mức
tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung
bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình
tiết giảm nhẹ thìmức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm
quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì
mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt
tối đa của khung tiền phạt.
Ví dụ bạn bị lỗi "không
đội mũ bảo hiểm", trong NĐ 171 quy định mức phạt là từ 100K đến 200K,
như vậy nếu có tình tiết tăng nặng (tái phạm, lăng mạ CA, che giấu hành
vi...) thì mức phạt là 200K; nếu có tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn, tự
nguyện khai báo; có hành vi giảm bớt hậu quả...) thì mức phạt là 100K.
Còn thông thường thì sẽ lấy mức trung bình cộng là 150K. Do đó nếu bị
"dọa" hay "ép" vào mức phạt cao nhất thì bạn cần nêu ý kiến, thể hiện rõ
vào biên bản.
Mong nhận được sự góp ý của các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.