Monday, December 29, 2014

Chế tài xử phạt vi phạm giao thông 46/2016/ND-CP


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/posts/783036861795351


Thursday, December 11, 2014

Dôi diều cần lưu ý khi bị xử phạt lỗi "sai làn"


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/%C4%91%C3%B4i-%C4%91i%E1%BB%81u-c%E1%BA%A7n-l%C6%B0u-%C3%BD-khi-b%E1%BB%8B-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-l%E1%BB%97i-sai-l%C3%A0n/772629309502773


LƯU Ý QUAN TRỌNG: Đến 1/11/2016, QCVN 41:2016 có hiệu lực thì những căn cứ trong bài viết này (dựa trên QCVN 41:2012) có thể không còn hiệu lực; Bài viết này có thể không còn chính xác nữa nên mọi người lưu ý tham gia giao thông đúng luật, không dựa vào bài viết này để tranh luận nữa.

Mr. Đốp

Tham gia giao thông ở Hà Nội, ad rất bức xúc khi nhiều trường hợp người dân không vi phạm Luật mà CSGT dựa vào sự thiếu hiểu biết của đa số người dân để dọa nạt, không lỗi thành có lỗi, lỗi nhỏ thành lỗi to. Điển hình trong thời gian qua là lỗi "sai làn". Như vậy, khi nào bị lỗi "sai làn"? Ad tạm tổng hợp thông tin chính như sau:

I. Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường:

Ở những ngã 3, ngã 4 các dòng phương tiện được phân làn rẻ phải, rẽ trái và đi thẳng để tránh xung đột giao thông bằng vạch kẻ đường + mũi tên chỉ hướng đi trên mỗi làn đường và biển báo 411

Biển số 411 "Hướng đi trên mỗi làn đường theo vạch kẻ đường"



Vạch số 1.18:


Ví dụ bạn rẽ trái mà lại đi vào làn có mũi tên đi thẳng thì gọi là: Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường.

Lưu ý, biển 411 phải có vạch 1.18 ở dưới thì mới hiệu lực. Hoặc nếu chỉ có riêng vạch 1.18 thì vẫn hiệu lực. Còn trường hợp có biển 411 mà không có vạch 1.18 thì biển đó không hiệu lực bởi biển 411 là biển chỉ dẫn, không thể làm căn cứ xử phạt.

*Tóm lại, tại nơi giao nhau mà đi sai hướng mũi tên chỉ trên làn đường mình đi trước đó thì dính lỗi nhẹ tiền


II. Lỗi "Sai làn".
Khi trên mặt đường phân chia thành nhiều làn được phân biệt bằng vạch kẻ đường, mỗi làn chỉ cho 1 số loại phương tiện giao thông nhất định đi trên đó. Ví dụ: Làn dành riêng cho ô tô con, làn dành riêng cho ô tô tải, làn dành riêng cho xe máy... Và quan trọng là biển báo hiệu "đường dành riêng" như hình dưới đây:

Biển 412 (a,b,c,d) "Làn đường dành riêng cho từng loại xe"


Hoặc các biển báo được mô tả ".... đường dành cho ....." như các biển:


Ví dụ nếu bạn đi ô tô mà đi vào làn xe máy thì như vậy mới gọi là sai làn.

* Tóm lại, đi vào làn đường dành riêng cho loại phương tiện khác HOẶC đi vào làn đường ngược chiều thì sẽ bị lỗi "sai làn"

Cần phân biệt rõ hai lỗi này bởi mức phạt chênh nhau rất lớn

- Lỗi "Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường"
mô tô: 70.000
ô tô: 150.000

- Lỗi "Sai làn": "Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố"
mô tô: 300.000
ô tô: 1.000.000, tước GPLX 1 tháng


Như vậy, khi bị CSGT dừng xe và thông báo lỗi "sai làn' thì bạn cần kiểm tra lại xem trước đó có biển 412, 411, mũi tên chỉ hướng trên đường (vạch 1.18) hay không. Nếu có vạch 1.18 mà mình đi sai hướng => lỗi "không chấp hành vạch"; Nếu có 412 (hoặc đi qua làn đường ngược chiều) => sai làn.

CSGT thường hay dọa lỗi "sai làn" với mức phạt nặng hơn để người vi phạm "sợ" mà "50-50", CSGT có tiền đút túi. Nhưng rõ ràng, nếu bạn đi mô tô mà không biết luật, bị dọa "sai làn" bèn 50-50 với CSGT thì sẽ mất 150.000 vào túi bọn tham nhũng, trong khi mức phạt thực tế đúng lỗi "không chấp hành..." chỉ có 70.000 đóng góp cho ngân sách quốc gia.


Nhiều nơi có đèn mũi tên cho phép rẽ phải/trái khi đèn đỏ, trên đường không có biển 411, 412, vạch 1.18 nhưng CSGT vẫn cứ chỉ lên đèn mũi tên (hoặc vạch sọc hình quả trám ở một làn nào đó) nói rằng "làn này dành cho xe rẽ phải/trái" như vậy là sai, và đây là điều Ad đang rất bức xúc hiện nay nên cũng muốn nhấn mạnh một chút.

Ví dụ như trong ảnh dưới đây mô tả việc dừng vào làn rẽ phải trên đường Xã Đàn, khi DỪNG xe trên làn có mũi tên rẽ phải như trong ảnh thì CHƯA vi phạm gì (vì vạch 1.18 quy định hướng đi tại nơi giao nhau). Nhưng sau đó ai đi thẳng sang Hoàng Cầu (mà không rẽ phải về Tôn Đức Thắng/Khâm Thiên) sẽ dễ bị CSGT đứng bên kia "hốt", và lỗi này là lỗi "Không tuân thủ..." chứ không phải lỗi "sai làn" nhé.



Ví dụ tiếp tại ngã tư Bạch Mai - Minh Khai - Đại La


Như trong ảnh, ta thấy hai làn đường, phía bên ô tô đứng và phía bên xe máy đứng được phân chia bằng vạch liền. Phía trước có đèn mũi tên cho phép rẽ trái và đèn tín hiệu chính. Trước đó không hề có biển 411, 412, vạch 1.18. Như vậy khi đèn xanh, ta có thể đi thẳng từ vị trí người chụp ảnh (làn bên trái). CSGT thường chặn bắt các xe đi thẳng từ làn này và xử phạt lỗi "sai làn", lấy lý do rằng đèn mũi tên rẽ trái treo ở kia quy định xe đi làn bên trái đó chỉ được rẽ trái. Như vậy hoàn toàn sai, và có nhiều người "cứng luật" đã tranh luận và chiến thắng CSGT trong trường hợp này.

http://www.otofun.net/threads/768267-nha-chau-lam-chuot-bach-tai-nga-tu-minh-khai-bach-mai-td-dl

http://www.otofun.net/threads/258045-em-da-xu-li-chuyen-bi-hai-tai-nga-tu-minh-khai-va-dai-la-truong-dinh-bach-mai

http://www.otofun.net/threads/537060-em-lai-bi-xxx-bat-sai-lan-o-nga-tu-minh-khai-bach-mai-dai-la-truong-dinh

Tại ngã tư Tôn Đức Thắng - Quốc Tử Giám - Cát Linh cũng tương tự, đường phân 3 làn, dưới lòng đường không có vạch 1.18, trước đó không có biển 411, thế mà sáng nay ad đi đường đấy thấy CSGT chặn bắt 2 cô gái đi trên Quốc Tử Giám, từ làn giữa rẽ trái về Tôn Đức Thắng bị CSGT bắt và lý luận rằng muốn rẽ trái (có đèn mũi tên rẽ trái) phải đi vào làn sát bên trái. Ngày trước ad cũng bị dừng xe tương tự nhưng sau khi nghe ad lập luận rằng "không có biển bốn một một, không có vạch một - mười tám" thì CSGT có vẻ chột dạ và lấy cớ kiểm tra giấy tờ rồi cho ad đi ngay :v.

Ngoài ra, những vị trí "được phép rẽ phải khi đèn đỏ" thường có vạch sọc chéo ở dưới nền đường, vạch này (dù vẽ sai quy chuẩn) mang ý nghĩa cấm các phương tiện dừng tuy nhiên không có tác dụng phân làn


* Lưu ý: Trường hợp có vạch mắt võng nhưng không có biển phụ "đèn đỏ được phép rẽ phải" hoặc không bật xanh đèn phụ mũi tên rẽ phải thì các bạn phải dừng lại trên vạch mắt võng này. Vì theo quy định, đèn tín hiệu có hiệu lực cao hơn vạch kẻ đường nên "vạch cấm dừng" mà "đèn cấm đi" thì ta phải dừng theo đèn.

Ad lấy ví dụ báo hiệu giao thông tại ngã tư Trần Hưng Đạo - Bà Triệu  như sau:



Phía trước đó không có biển 411, 412, dưới mặt đường không có vạch 1.18. Như vậy trong trường hợp đèn đi thẳng đã xanh, bạn hoàn toàn có thể đi thẳng (không rẽ phải đi Bà Triệu) trên làn có sọc chéo đó. Và các xe rẽ phải cũng không bắt buộc phải đi vào khu vực vạch mắt võng đó. Vạch kẻ kiểu mắt võng chỉ có tác dụng cấm phương tiện dừng đỗ trên nó (đi chậm vẫn được) chứ không có tác dụng phân làn đường. Trường hợp bạn đi thẳng mà DỪNG chờ đèn đỏ trên vạch đó sẽ bị lỗi "không tuân thủ..." (vì vạch cấm dừng mà ta lại dừng).

Tuy nhiên các bạn không nên đi/dừng trong khu vực này khi không rẽ phải để khỏi gây xung đột giao thông cho các phương tiện rẽ phải.

Còn như tại Ô Chợ Dừa hướng từ Nguyễn Lương Bằng đi Khâm Thiên trước đó có biển 411, trên các làn đường tại đó có vẽ mũi tên chỉ hướng đi trên từng làn nên các xe phải đi vào khu vực vạch mắt võng để rẽ phải về Khâm Thiên (các bạn nhìn rõ vạch 1.18 hình mũi tên chỉ cho phép rẽ phải trên làn sọc chéo đó). Khi đường đông rất khó để các xe rẽ phải về Khâm Thiên đi vào cái vạch chéo này nên rất nhiều tài xế rẽ về Khâm Thiên tại làn giữa có mũi tên đi thẳng để rồi bị bắt ở bên Khâm Thiên và bị dọa lỗi "sai làn" mặc dù lỗi này chính xác chỉ là lỗi "không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường" (mũi tên đi thẳng ở làn giữa nói rằng rằng chỉ được đi thẳng về Tôn Đức Thắng mà các bác lại rẽ phải về Khâm Thiên => không tuân thủ vạch kẻ đường 1.18)



Lỗi "sai làn" ad thấy ở Hà Nội gặp rất nhiều nên sẽ "đính" nó lên đây để mọi người cùng tham khảo nhé. Và khi đến điểm giao cắt, mọi người cùng nên tránh dừng tại những làn đường có vạch chỉ hướng mà mình không theo.

Mong mọi người tham gia giao thông tỉnh táo.

Bài viết có tham khảo bài và ảnh của một số thành viên trên diễn đàn otofun.net.

Quy định về biển báo hiệu, vạch kẻ đường được trích từ QCVN 41:2012/BGTVT "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ" quy định về hệ thống báo hiệu đường bộ

Mr. Đốp




Tuesday, September 30, 2014

Thẩm quyền của CSCD, 113, C.A phường... trong xử lý các vi phạm luật giao thông đường bộ!


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/th%E1%BA%A9m-quy%E1%BB%81n-c%E1%BB%A7a-csc%C4%91-113-ca-ph%C6%B0%E1%BB%9Dng-trong-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-c%C3%A1c-vi-ph%E1%BA%A1m-lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-/737676319664739



Ngoài CSGT có nhiệm vụ, quyền hạn chuyên về lĩnh vực giao thông ra thì hiện nay vẫn có nhiều lực lượng như CSCĐ, CSTT, C.A xã... tham gia tuần tra, xử phạt về giao thông. Tuy nhiên những lực lượng này chỉ có thẩm quyền xử phạt đối với một số lỗi vi phạm. Trong khuôn khổ bài viết này, Ad tổng hợp một số lỗi vi phạm về giao thông đối với xe mô tô mà các lực lượng trên có thẩm quyền xử phạt. Việc đòi phạt, thu tiền đối với những lỗi ngoài danh mục dưới đây với xe mô tô đều là hành vi lạm quyền (Lưu ý là lập BB thì vẫn được nhé, đừng thách nhau :D).

Tại Khoản 3, Điều 70, Nghị định 46/2016/NĐ-CP "Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt" có quy định thẩm quyền xử phạt của các lực lượng sau:

- Cảnh sát trật tự,
- Cảnh sát phản ứng nhanh (113),
- Cảnh sát cơ động,
Trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đườngsắt có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các điểm,khoản, điều của Nghị định này như sau:

Điều 6, Khoản 2, mức phạt 90K
e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

Điều 6, Khoản 3, mức phạt 150K

a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 03 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;

e) Bấm còi, rú ga (nẹt pô) liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

h) Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; đỗ xe tại nơi có biển “Cấm đỗ xe” hoặc biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 48 Nghị định này;

i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

o) Người đang điều khiển xe sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính.


Điều 6, Khoản 4, mức phạt 350K

b) Chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;

d) Dừng xe, đỗ xe trên cầu;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người được chở trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

m) Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.
Điều 6, Khoản 5, mức phạt 750K


b) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

d) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

đ) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;

e) Dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định.


Điều 6, Khoản 6, mức phạt 1.500K


Người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở.

Điều 6, Khoản 7, mức phạt 2.500K

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

Điều 6, Khoản 8, mức phạt 3.500K


b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.


Điều 6, Khoản 9, mức phạt 6.000K (12.000K nếu gây tai nạn HOẶC không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người điều khiển giao thông)


a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 02 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

Điều 6, Khoản 11

Người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy:


- Tước GPLX từ 22 tháng đến 24 tháng (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) HOẶC
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (trong trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe)

Điều 34
Khoản 1, mức phạt 1.500K

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

Khoản 2, mức phạt 7.500K đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

Khoản 3, mức phạt 9.000K đối với người đua xe ô tô trái phép.


Như vậy, các lực lượng trên không có thẩm quyền XỬ PHẠT với một số lỗi thông dụng như: Không bật đèn chiếu sáng khi trời tối; Các lỗi về giấy tờ xe; Chuyển làn, hướng không có tín hiệu (Không xi nhan), chạy quá tốc độ quy định (nếu 1 xe, không phải đua), Xe không gương chiếu hậu bên trái...

Lưu ý: Nhiều bạn đọc báo mạng, không để ý kỹ câu từ được sử dụng là "thẩm quyền xử phạt" và cho rằng các lực lượng trên không được "bắt", không được "xử lý" các lỗi còn lại... Các lực lượng trên vẫn có thể có thẩm quyền lập biên bản (Điều 75, NĐ 46/2016/NĐ-CP) các hành vi vi phạm giao thông mà họ không có thẩm quyền xử phạt (Điều 70), sau đó bàn giao biên bản cho người có thẩm quyền xử phạt ra Quyết định xử phạt. Việc này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Đoạn 2, Khoản 3, Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính:




Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

3. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.
Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.


Đã cập nhật theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP

Mr. Đốp




Thursday, September 25, 2014

Phạt xe máy lỗi "gương không chuẩn", "gương thời trang"?


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/ph%E1%BA%A1t-xe-m%C3%A1y-l%E1%BB%97i-g%C6%B0%C6%A1ng-kh%C3%B4ng-chu%E1%BA%A9n-g%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%9Di-trang/735552583210446


Điều 53, Luật GTĐB quy định điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới phải:

Có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển”

Tại Điều 2.11 "Gương chiếu hậu" trong QCVN 14:2015/BGTVT của Bộ GTVT về Chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe mô tô, xe gắn máy thì xe gắn máy phải lắp ít nhất 1 gương chiếu hậu bên trái; xe mô tô phải lắp 2 gương chiếu hậu bên phải và bên trái người điều khiển.

Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm giao thông quy định:
Điều 17. Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cảxe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máyvi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông
1. Phạttiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sauđây:
a) Điềukhiển xe không có còi; đèn soi biển số; đèn báo hãm; gương chiếu hậu bên tráingười điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng;

Như vậy, Luật quy định phải có đủ 2 gương nhưng chỉ có quy định xử phạt nếu thiếu gương bên trái. Do vậy CSGT chỉ phạt khi xe mô tô thiếu gương bên trái hoặc có gương bên trái nhưng không có tác dụng với mức phạt tiền là 90.000đ. Xe mô tô thiếu gương chiếu hậu bên phải dù sai quy định nhưng không bị phạt.

Nhưng thế nào là gương chiếu hậu đạt tiêu chuẩn? CSGT xử phạt lỗi “gương thời trang” có đúng không? Gương cầu có bị phạt không?....

Quy chuẩn Việt Nam về gương chiếu hậu cho mô tô, xe máy www.vr.org.vn/vaq/Standards/TCVNFiles/QCVN28-2010.pdf

Trong đó, có những chi tiết có thể dễ dàng xác định mà không cần đo bằng phương tiện kỹ thuật như:
- Gương có tác dụng phản xạ
- Tại mục Quy định kỹ thuật, Quy định kỹ thuật chung:
Tất cả các gương phải điều chỉnh được vùng quan sát.

- Tại mục Quy định về kích thước:
2.2.1 Diện tích của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 69cm2
2.2.2 Trong trường hợp gương tròn, đường kính của bề mặt phản xạ không được nhỏ hơn 94mm và không được lớn hơn 150mm

Như vậy, gương chiếu hậu mô tô, xe máy “tiêu chuẩn” là đáp ứng được các điều kiện trong Quy chuẩn trên. Không có quy định nào cấm hoặc xử phạt người sử dụng “gương thời trang” hay “gương cầu”, “gương không theo xe”.

Hiện có nhiều người vẫn nhầm tưởng lỗi "không gương" là "lỗi phụ", chỉ được xử phạt kèm theo "lỗi chính". Đây là quan niệm sai lầm bởi vì không có quy định nào về lỗi chính, lỗi phụ. Nếu một hành vi đã được quy định trong chế tài xử phạt thì đều có thể xử phạt riêng.

Lưu ý: Page sẽ không trả lời bất kỳ câu hỏi nào dạng "gương này có bị phạt không?"... Page đã cung cấp quy định, các bạn đọc kỹ rồi tự đo gương của mình xem có phù hợp quy định hay không. Chứ Page chỉ nhìn ảnh sao biết được kích thước :(

Mr. Đốp




Tuesday, September 9, 2014

Vấn dề xử phạt xe "chính chủ"


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-xe-ch%C3%ADnh-ch%E1%BB%A7/728536773912027


 Gần đây, Thần rùa Ka Mê và một số bạn có thắc mắc, lo lắng bị CSGT xử phạt khi đi xe "không chính chủ" nên ad tổng hợp như sau:

Trước tiên, xin khẳng định rằng Luật không bắt buộc người điều khiển chỉ được đi xe do mình đứng tên. Như vậy bạn có thể mượn xe của người khác để đi bình thường (nhớ mượn cả Giấy đăng ký xe).

Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định:


Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ
1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
b) Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được Điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được Điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.

Có thể thấy, quy định chỉ xử phạt hành vi mua bán, cho, tặng, chuyển quyền sở hữu... mà không làm thủ tục đăng ký sang tên xe. Luật không xử phạt người đi xe mà giấy tờ xe mang tên người khác. Do đó có thể mượn xe để sử dụng thoải mái mà không bị xử phạt lỗi "không làm thủ tục....".

Việc sử dụng cụm từ "không chính chủ" là không đúng với quy định của pháp luật. Nhưng từ đây, báo chí, internet, dân tình rộ lên cụm từ "xe không chính chủ" và lo lắng "nhà tôi 5 người chẳng lẽ phải mua 5 chiếc xe", viết tâm thư....

Ngoài ra, cũng tại NĐ 46:
MỤC 2. THỦ TỤC XỬ PHẠT
Điều 76. Thủ tục xử phạt đối với chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ
9. Việc xác minh để phát hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1, Khoản 5 Điều 30 Nghị định này chỉ được thực hiện thông qua công tác Điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông gây hậu quả từ mức nghiêm trọng trở lên; qua công tác đăng ký xe.

Do đó, khi dừng phương tiện đang lưu thông vì lỗi nào đó thì CSGT cũng không được kiểm tra, xử lý lỗi "không làm thủ tục đăng ký sang tên xe" này. Nếu bạn có vi phạm lỗi giao thông nào (không liên quan đến tai nạn giao thông nghiêm trọng) thì CSGT không được lợi dụng để xác minh, xử phạt việc không làm thủ tục đăng ký sang tên.

Điều 80. Hiệu lực thi hành
3. Việc áp dụng quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 30 Nghị định này để xử phạt cá nhân, tổ chức vi phạm được thực hiện kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.

Quy định phải làm thủ tục sang tên trong vòng 30 ngày kể từ ngày mua. Trong trường hợp đã quá 30 ngày thì bạn cần đi làm thủ tục trước ngày 01/01/2017. Kể từ ngày 01/01/2017 mang xe đi làm thủ tục mà đã bị quá 30 ngày kể từ ngày mua xe thì bạn sẽ bị phạt lỗi "không làm thủ tục..." trên.
Các quy định về thủ tục sang tên được quy định tại Thông tư số 15/2014/TT-BCA  ngày 04/04/2014 của Bộ Công an Quy định về Đăng ký xe.

Lưu ý quan trọng: Ad nhận được thông tin một bạn chia sẻ rằng mình bị CSGT xử phạt lỗi "chính chủ", có Biên bản, Quyết định, nộp phạt ở kho bạc hẳn hoi. Tuy nhiên sau khi xem cụ thể Quyết định xử phạt thì thấy rằng CSGT đã "lừa" bạn ấy, xử phạt hành vi "Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông." với mức phạt 900.000đ dù bạn ấy có GPLX (quên không mang theo).

Việc xử phạt hành vi này hoàn toàn không phải là lỗi "chính chủ" bởi chỉ cần người điều khiển có GPLX thì không thể phạt dù xe đó có đứng tên ai đi nữa, miễn là có Giấy đăng ký xe hợp lệ.

Lỗi "chính chủ" nếu có bị phạt thì dù người lái xe có GPLX đi chăng nữa nhưng bị phát hiện không làm thủ tục sang tên khi chuyển quyền sở hữu phương tiện thì đều bị phạt (2017 mới phạt và chỉ được thực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông gây hậu quả từ mức nghiêm trọng trở lên; qua công tác đăng ký xe)./.

Mr. Đốp
#xechinhchu #chinhchu #phatchinhchu




Thursday, August 21, 2014

Kinh Nghiệm Xử Lý Từ A-Z Khi Bị CSGT Dừng Xe


https://www.facebook.com/LuatGiaoThongDuongBoVietNam/

https://www.facebook.com/notes/lu%E1%BA%ADt-giao-th%C3%B4ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-x%E1%BB%AD-ph%E1%BA%A1t-vi-ph%E1%BA%A1m-giao-th%C3%B4ng/kinh-nghi%E1%BB%87m-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-t%E1%BB%AB-a-z-khi-b%E1%BB%8B-csgt-d%E1%BB%ABng-xe/718737641558607


Kinh nghiệm khi đang lưu thông trên đường, khi bị CSGT thực hiện điều lệnh (ra tín hiệu) dừng xe: 
1. Thao tác dừng xe: Bình tĩnh, giảm tốc độ từ từ và quan sát phía trước, hai bên và phía sau xe. Cho xe dừng vào khu vực CSGT chỉ dẫn, dừng xe vào vị trí an toàn (vì đôi khi CSGT chỉ mình dừng xe vào chỗ không an toàn, vi phạm luật...). Bật đèn dừng khẩn cấp (với xe ô tô).

2. Chuẩn bị: Bật ghi âm, ghi hình (nếu có), ngồi nguyên tại vị trí lái, hạ kính xuống (với xe ô tô) chờ CSGT đến. Quan sát kỹ xem CSGT đó là thật hay giả? CSGT đó có biển tên hoặc thẻ xanh không (vì chỉ CSGT đeo thẻ xanh mới được quyền thực hiện điều lệnh dừng phương tiện đang lưu thông - theo Thông tư số 45/2012/TT-BCA, còn CSGT không có thẻ hoặc CSGT khác chỉ được làm công việc hỗ trợ);

- Nếu phát hiện CSGT không có biển tên thì dứt khoát không làm việc vì đây có thể là CSGT giả hoặc CSGT không đủ điều kiện đi làm việc; hoặc CSGT có biển tên nhưng không có thẻ xanh thì đây là CSGT không đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông.- Quan sát khu vực xung quanh, nếu phát hiện chỉ có 01 CSGT (gọi là bồ câu đi lạc) thì đây là CSGT đi ăn mảnh phi pháp (Theo thông tư số 01/2016/TT-BCA tổ CSGT tối thiểu 2 người).

Gặp 02 trường hợp trên thì dứt khoát không xuống xe mà hãy gọi cho CS 113 hoặc ĐDN Cục CSGT ĐB-ĐS để phản ánh:

+ Hà Nội: 069.42608 - 04.39423011+ Đại diện phía Nam: 069.36233

- Nếu phát hiện CSGT giả, đề phòng bị cướp, chúng ta hãy hô lớn kêu cứu những người xung quanh hoặc chuẩn bị phương án phòng vệ hợp lý.

3. Chào hỏi: Sau khi đã thực hiện xong bước (2), xác định CSGT đó đủ điều kiện làm việc và được CSGT mời xuống làm việc. Vẫn bật đèn dừng khẩn cấp, tháo dây an toàn (với ô tô), rút chìa khó đút túi (đề phòng bị cướp), chuẩn bị đầy đủ giấy tờ cần thiết (vẫn để nguyên trong túi – cũng đề phòng trường hợp bị cướp) mở cửa bước xuống (với ô tô), khóa xe cần thận. Chờ CSGT chào mình theo đúng điều lệnh, mình cũng sẽ chào lại CSGT. Lời chào đầu tiên chúng ta hãy chào rõ cấp bậc, họ tên đầy đủ (nếu cần thêm cả số hiệu) của CSGT đó nữa, VD như "chào Trung sỹ Nguyễn Văn Ă", "chào Đại úy Trần Văn Đ", "chào Trung tá Lê Văn Xơi"... Điều này thể hiện hiểu biết của chúng ta và đặc biệt tạo ra sự uy quyền giữa "ông chủ" và "đầy tớ", nhắc choCSGT nhớ ra ai là "ông chủ", ai là "đầy tớ". Khi đó áp lực của "ông chủ" sẽ đè nặng lên "đầy tớ", CSGT sẽ giảm sự hống hách, bố láo...Trong quá trình tranh luận với CSGT, chúng ta chú ý dùng đại từ nhân xưng cho phù hợp, bình tính, dõng dạc chứ đừng có xoắn lên. VD: với CSGT kém tuổi hơn dùng tôi - chú, anh/ chị - chú, anh/ chị - em hoặc tôi – anh…; với CSGT tầm ngang tuổi hoặc hơn tuổi dùng tôi - anh; với CSGT nhiều tuổi, vui vẻ, tình cảm thì dùng em - anh, cháu - chú....

Việc đọc rõ ràng, dõng dạc tên, số hiệu, cấp hiệu của người C.A đó cũng có thể đánh tiếng với họ về việc cần tuân thủ thực hiện đúng quy định của pháp luật. Chúng ta cần ghi nhớ một số cấp hiệu theo bảng dưới đây (khá đơn giản mà )




Nếu CSGT chưa chào đúng điều lệnh, hãy yêu cầu CSGT chào lại khi nào đúng mới làm việc!

Chúng ta hãy nhớ rằng luôn ghi âm, ghi hình đầy đủ để làm bằng chứng tố cáo, khiếu nại khi CSGT làm sai hoặc làm bằng chứng bảo vệ mình khi bị CSGT vu khống. Nếu phát hiện CSGT có mùi bia, rượu thì chúng ta kiên quyết không làm việc.
Tại Điều 3, TT 01 quy định về yêu cầu, tiêu chuẩn của cán bộ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ sau:
1. Nắm vững và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, Thông tư này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được phân công; quy chế dân chủ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và Điều lệnh Công an nhân dân.
3. Khi tiếp xúc với nhân dân, người có hành vi vi phạm pháp luật phải có thái độ đúng mực và ứng xử phù hợp với từng đối tượng được kiểm tra.
4. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định của pháp luật.
5. Đã được cấp biển hiệu và Giấy chứng nhận Cảnh sát tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ theo quy định của Bộ Công an.

4. Làm việc: Khi CSGT yêu cầu xuất trình giấy tờ thì yêu cầu CSGT thực hiện đúng tác phong, điều lệnh và quy trình về kiểm soát: Thông báo lỗi, hay thông báo lý do dừng xe theo các điều kiện về việc được phép dừng xe để kiểm soát theo TT 01 rồi mới tiến hành kiểm soát, bao gồm cả việc yêu cầu lái xe xuất trình giấy tờ để kiểm soát.

Dứt khoát chúng ta không đưa giấy tờ cho CSGT trước khi CSGT thông báo lỗi, chứng minh chúng ta vi phạm. Điều 12, TT 01 quy định về điều kiện CSGT được dừng phương tiện đang lưu thông để kiểm tra, kiểm soát sau:

Mục 4: NỘI DUNG TUẦN TRA, KIỂM SOÁT, XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều 12. Các trường hợp được dừng phương tiện
1. Việc dừng phương tiện phải bảo đảm các yêu cầu sau:
a) An toàn, đúng quy định của pháp luật;
b) Không làm cản trở đến hoạt động giao thông;
c) Khi đã dừng phương tiện phải thực hiện việc kiểm soát, nếu phát hiện vi phạm phải xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
2. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau:
a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;
b) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên;
c) Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên;
d) Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;
đ) Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông.

Trường hợp CSGT cố tình yêu cầu chúng ta xuất trình giấy tờ trước khi CSGT thông báo lỗi, khi đó chúng ta kiên quyết không đưa giấy tờ, có thể CSGT sẽ vu khống chúng ta tội “chống người thi hành công vụ”. Vậy chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta có thể trả lời: “Anh không được lộng ngôn, vu khống, thế nào là chống người thi hành công vụ? Tôi chỉ yêu cầu anh thực hiện đúng quy định của pháp luật, quy định của ngành…”. Có thể CSGT sẽ dọa dẫm cho xe về đồn… Chúng ta có thể nói: “Nếu anh có thể làm được điều trái quy định của pháp luật, của ngành thì anh cứ làm cho tôi xem, cho mọi người dân xem, cho lãnh đạo của anh xem, cho các cơ quan bảo vệ pháp luật xem…”.

Đã có trường hợp chúng ta đưa giấy tờ cho CSGT trước khi CSGT thông báo lỗi và chúng ta không chấp nhận lỗi này mà CSGT cũng không chứng mình được. Sau một hồi bla bla CSGT bảo không cầm giấy tờ của chúng ta. Vậy chúng ta phải kiên quyết yêu cầu CSGT chứng minh lỗi trước khi chúng ta xuất trình giấy tờ cho CSGT kiểm tra, kiểm soát.

Nếu CSGT nói là kiểm tra hành chính, nghĩa là CSGT thực hiện việc dừng xe trong các trường hợp theo Mục b), c), d), đ) Khoản 2, Điều 12 của TT 01 thì yêu cầu CSGT xuất trình các loại giấy tờ của Thủ trưởng CA cấp huyện trở lên. Sau khi kiểm tra đúng ta mới xuất trình giấy tờ cho CSGT kiểm tra.

Lỗi quá tốc độ tối đa cho phép: Hiện nay CSGT kiểm tra bằng máy kiểm tra tốc độ (súng bắn tốc độ), nếu cần yêu cầu CSGT cho xem hình ảnh. Khi xem hình ảnh chú ý kiểm tra máy kiểm kiểm tra tốc độ còn tem kiểm định có hiệu lực hay không, hình ảnh đó có chứng minh được xe của mình chạy quá tốc độ trong đoạn đường quy định đó hay không...

Các lỗi khác như đè vạch, vượt phải, vượt tại đoạn đường con, vượt đèn đỏ mấy giây, xi-nhan... nếu thực sự không vi phạm (hoặc thích cãi cùn là mình không vi phạm, mặc dù vi phạm thật - không ủng hộ) thì kiên quyết (hoặc già mồm cãi) bảo vệ quan điểm đúng của mình, CSGT cố tình ép chúng ta nhận lỗi thì CSGT phải có bằng chứng xác thực, bằng hình ảnh hoặc bằng cách nào đó - đó là việc của CSGT mà mình phải tâm phục khẩu phục. Điều 3 (Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính), Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 quy định:

đ) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

Nếu CSGT đọc lỗi đúng với lỗi chúng ta vi phạm, chúng ta hãy nhận lỗi, xuất trình giấy tờ và chấp thuận việc kiểm soát, xử lý của CSGT theo quy định của pháp luật.

Khi CSGT lập biên bản, trước khi ký chúng ta phải kiểm tra 03 việc và yêu cầu CSGT thực hiện đúng, chính xác:

- Thứ nhất: Mẫu biên bản có đúng mẫu được ban hành đúng luật không (có dấu đỏ, số thứ tự…)

- Thứ hai: Phần ghi lỗi vi phạm, yêu cầu CSGT ghi đúng lỗi vi phạm của mình

- Thứ ba: Để CSGT ký xong, chúng ta xem kỹ lại lần nữa rồi mới ký vào BB.

Chúng ta hãy nhớ rằng, nguyên tắc làm việc của CSGT là mọi hành động và lời nói phải có căn cứ. Khi làm việc với CSGT hãy bình tĩnh nói nhẹ nhàng, mềm mỏng nhưng dứt khoát, lần lượt người nói, người nghe để đối đáp với CSGT như thế sẽ hiệu quả hơn. Nếu mình vô tình, không cố ý vi phạm những lỗi nhẹ, CSGT có thể chỉ nhắc nhở mà không xử lý hành chính.
nguuồn: otofun.net http://www.otofun.net/threads/499324-quy-trinh-thuc-hien-dieu-lenh-ofer-khi-bi-xxx-dung-xe